Luận Câu Xá

11/11/201017:55(Xem: 17761)
Luận Câu Xá


LUẬNCÂU XÁ

A.TÁC GIẢ VÀ THỜI GIAN TẠO LUẬN

Tácgiả luận này là Luận sư Bà-tấu-bàn-đậu (Vasubandhu - cựudịch là Thiên Thân, tân dịch là Thế Thân), người Bắc AánÐộ, sanh trong khoảng 900 năm sau Phật nhập diệt, tại đôthành Bố-lâu-sa-bố-sa (Purusapura), nước Kiền-đà-la (Gandhara),họ Kiều-thi-la, chủng tộc Bà-la-môn, Ngài có ba anh em đềuxuất gia theo bộ phái Tát-bà-đa (Sarvàstivada: Nhất thế hữubộ, gọi tắc là Hữu bộ, một trong hai mươi bộ phái Tiểuthừa), nhưng anh ngài là Vô Trước (Asanga) sớm tỏ ngộ khônglý (Sunyata) của Tiểu thừa, không còn bị bế tắc ở nơiđó, nên thông suốt thật tướng, quay về nghiên cứu và hoằngdương giáo lý Ðại Thừa. Em ngài là Tỷ-lân-trì-đạt-đathì chỉ theo giáo nghĩa Tiểu thừa mà thôi. Riêng ngài làbậc thông tuệ tuyệt vời, khi còn theo Tiểu thừa đã viết500 bộ luận để xiễn dương giáo nghĩa này. Về sau, đượcsự khuyến dẫn của anh là Vô Trước, ngài trở về Ðạithừa và cũng viết 500 bộ luận để hoằng dương giáo nghĩanày. Vì thế, đương thời tôn ngài là Thiên Bộ Luận Sư.Câu-xá Luận là một trong 500 bộ luận Tiểu thừa do ngàitrước tác. Ðến năm 80 tuổi ngài viết bộ luận cuối cùnglà "Duy Thức Tam Thập Tụng". Như vậy, có thể ước định,ngài viết luận Câu-xá vào khoảng từ 40-50 tuổi, tức khingài đang theo Tiểu thừa.

TheoTây Vức Ký 2, cách thành Bố-lâu-sa-bố-la, khoảng tám, chíndặm về phía đông, có một cây tất-bát-la, phía nam cây nàycó một ngôi tháp cao do vua A-nị-sắc-ca (Kaniska, 120TL) dựnglên khoảng năm trăm năm sau Phật Niết-bàn, phía tây ngôitháp có một ngôi chùa cao rộng, với nhiều tầng, tên làQuỳnh Lâm, cũng do vua Ca-nị-sắc-ca lập. Tầng thứ ba làmột Tăng phòng, nơi mà trước kia ngài Hiếp Tôn Giả ở,phía đông Tăng phòng có một gian nhà, chính nơi đây ngàiThế Thân viết bộ luận Câu-xá này.

B.Ý HƯỚNG TẠO LUẬN

Khitách khỏi Thượng tọa bộ, Hữu bộ có kiến giải riêngvề Phật pháp. Theo Hữu bộ mục đích của toàn bộ Phậtpháp ở chỗ chỉ ra sự khổ của thế giới hiện hữu vàphương cách thoát ly sự khổ đó để đạt Niết-bàn an ổnvĩnh cửu. Nói đầy đủ hơn là chỉ rõ sự khổ mà ngườicầu giải thoát cần phải biết, nguyên nhân sự khổ mà ngườicầu giải thoát cần phải diệt trừ, phương cách diệt khổcần phải tu và cảnh giới Niết-bàn an vui cần phải chứng.Ðó là bốn Thánh đế bao gồm tất cả mọi sự vật thếgian và xuất thế gian. Mọi sự vật này lại có thể chiara năm vị là sắc, tâm, tâm sở, tâm bất tương ưng và vôvi. Sắc tức năm căn, năm trần và vô biểu sắc. Tâm tứctinh thần, khả năng nhận thức, tức tâm vương. Tâm sở làcông dụng tinh thần đặc thù như cảm giác, tri giác, tưởngtượng v.v... Công dụng đặc thù này không phải là công dụngcủa tâm vương nhưng nó có tự thể riêng hợp cùng với tâmvương thành có cảm giác tri giác, như thọ tâm sở hợp vớitâm vương thành có sự cảm thọ vui khổ. Tâm bất tươngưng hành, hành là tạo tác, những pháp có công dụng tạotác gọi là hành như sanh, trụ, dị, diệt v.v... nó từ tâmvà sắc mà có được, chứ không phải như tâm sở tươngưng với tâm vương, nên gọi tâm bất tương ưng hành. Vôvi pháp tức ba thứ trạch diệt, phi trạch diệt và hư khôngvô vi. Năm vị pháp này theo chỗ tiện nghi chia làm năm uẩnvà vô vi, hoặc chia làm mười hai xứ, hoặc chia làm mườitám giới. Năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới hợp lạigọi là ba khoa, thể nó thường hằng bất diệt, chỉ khi tácdụng nó chưa khởi gọi là pháp vị lai, khi đã khởi rồigọi là quá khứ, khi đang khởi gọi hiện tại. Ðây là chủtrương "ba đời thật có", "pháp thể hằng có" của tông pháiHữu bộ. Pháp thể tuy hằng có, nhưng tác dụng của nó sanhkhởi được phải nhờ đến sự hòa hợp của các cái khácvà sự quan hệ trước sau, tức là nhờ nhân duyên, chứ khôngthể đơn độc khởi lên tác dụng. Tự thể mỗi pháp riêngcòn không thể khởi lên tác dụng huống là có một chủ tểthường nhất để gọi đó là ngã được sao? Do đó tôngnày còn được gọi là "Pháp hữu ngã vô tông".

Hỏi:Nếu không có ngã thể chủ tể thường nhất thì cái gì dẫnđến sự khổ của thế giới hiện thực này?

Ðáp:Dẫn đến sự khổ của thế giới hiện thực không ngoàinghiệp nhân và phiền não duyên, nếu dứt hết nghiệp nhânvà phiền não duyên thì quả báo sự khổ tự dứt, đồngthời chứng đắc diệu thể Niết-bàn. Phương pháp dứt nghiệpphiền não này nói lược là Thánh đạo tám chi, nói rộnglà bảy khoa ba mươi bảy giác phần. Tóm lại, tông phái Hữubộ rất chú trọng lý tánh, chú trọng dùng tuệ giản trạchcác pháp để dứt mê hoặc chứng chân lý. Cho nên trên bướcđường tu đạo không ngoài vận dụng tuệ thế tục (hưũlậu tuệ) và tuệ thắng nghĩa (vô lậu tuệ) tuần tự tiếntheo ba đạo là kiến đạo, tu đạo, vô học đạo. Kiến đạolà dựa vào tuệ trạch pháp thấy biết một cách xác thậtvề lý Tứ đế, dứt được kiến hoặc cũng gọi mê lý hoặc.Tu đạo là tiến lên dùng sức tuệ trạch pháp tiếp tụcquán sát lý Tứ đế, để dứt trừ tư hoặc cũng gọi làmê sự hoặc (sự là sự trạng). Nhưng hai đạo này còn trênđường tu tập dứt hoặc chứ chưa hòan toàn thanh tịnh, nêncòn gọi chúng là hữu học, cho đến khi hòan toàn sạch hếtmê hoặc chứng đạt Niết-bàn mới gọi là vô học đạo,còn gọi là vô học vị. Lại do căn cơ người tu có hạ,trung, thượng nên kết quả khác nhau. Hạ căn phải nhờ nghegiáo pháp Phật để tu mới được giải thoát, đây là chủngtánh thanh văn, kết quả chứng A-la-hán. Trung căn không nhờsự nghe giáo, chỉ do tự lực quán sát lý Mười hai Nhân duyênmà dứt hoặc ngộ đạo. Ðây là chủng tánh duyên giác, kếtquả chứng độc giác Phật. Thượng căn trải nhiều kiếptu hành đầy đủ nhất thế chủng trí, dứt sạch mê hoặc,viên mãn công hạnh tự lợi lợi tha, chứng vô thượng giác.Ðây là chủng tánh đại giác.

Giáonghĩa của Hữu bộ từ khi tách khỏi Thượng tọa bộ chođến khi luận sư Ca-đa-diễn-ni tử ra đời mới tổ chứchoàn chỉnh có hệ thốngvới bộ luận Phát Trí của ông,được truyền bá mạnh nhất tại nước Ca-thấp-di-la (Kasmir,Kế Tân) ở Bắc Aán. Ðến giữa thế kỷ thứ hai TL, vua Ca-nị-sắc-cacủa Ca-thấp-di-la triệu tập Ðại hội Kết tập Kinh điểnlần thứ tư dưới sự chủ trì của các ngài Hiếp Tôn Giả,Pháp Cứu, Thế Hữu, Diệu Âm, Giác Thiên thuộc Hữu bộ (trongđó, Thế Hữu làm Thượng thủ), kết quả đặc bi?t củacuộc kết tập là cho ra đời bộ luận A-tỳ-đạt-ma ÐạiTỳ-bà-sa 200 cuốn, nhằm giải thích luận Phát Trí. Từ trướccác học giả A-tỳ-đạt-ma được gọi là Ðối pháp sư,từ khi luận Ðại tỳ-bà-sa ra đời thì các học giả nàyđược gọi là Tỳ-bà-sa sư, nghĩa là vị thầy giải thíchtỉ mỉ. Họ truyền bá rất mạnh Hữu bộ, tôn trọng luậnLục Túc, Phát Trí hơn kinh, mạt sát các kinh luận của cácbộ phái khác hành trì và cứ mê chấp chủ trương "Ba đờithật có, ba khoa đều thật", cho đó là chân lý, rồi chêbai kẻ khác.

Ðếnđây các luận thư của Hữu bộ đã phong phú, lý nghĩa dồidào đến chi li phiền toái, người học khó theo nổi, đòihỏi đến sách tóm lược. Ðáp ứng nhu cầu đó, Pháp Thắngđã viết A-tỳ-đàm Tâm luận, rồi Như Ý Luận sư viết VôY Hư Không Luận giải thích Tâm Luận. Pháp Cứu, đệ tửcủa Pháp Thắng (cũng gọi Pháp Thượng, Ðạt-ma-thi-la), khôngđồng ý Hư Không Luận nên viết Tạp A-tỳ-đàm Tâm Luậnđể giải thích Tâm Luận của thầy mình. Các luận này tuynói là tóm lược Ðại Tỳ-bà-sa nhưng đã có nhiều điềukhông trung thực với Ðại Tỳ-bà-sa, nghĩa là không trung thựcvới lý thuyết Hữu bộ, nên khi Tâm Luận ra đời đượctruyền bá tại nước Càn-đà-la trở thành đối lập vớisự truyền bá của Ðại Tỳ-bà-sa ở Ca-thấp-di-la. Ngài ThếThân sinh tại Càn-đà-la đọc đến Tâm Luận, Tạp Tâm Luận,cùng giáo nghĩa của Kinh bộ có chỗ đồng tình, ngược lạikhông đồng tình một số giáo nghĩa chính của Hữu bộ nhưngHữu bộ đã tôn trọng nó hơn cả kinh Phật nói, nên ngàimuốn thẩm định lại thị phi, bèn cải trang đến tại Ca-thấp-di-langhiên cứu giáo nghĩa Hữu bộ, nhất là nghiên cứu bộ luậnÐại tỳ-bà-sa, được giữ nghiêm ngặt tại nước đó. Khiđến nơi ngài được vị A-la-hán Ngộ Nhập (Tác-kiện-đà)(Tây Tạng truyền rằng ngài học với Chúng Hiền là họctrò của Ngộ Nhập) truyền dạy giáo nghĩa Hữu bộ cho. Sau4 năm học hiểu thấu trọn giáo nghĩa Hữu bộ ngài đượcngài Ngộ Nhập ngầm khuyên trở về. Khi ngài trở về nướcbắt đầu giảng Ðại Tỳ-bà-sa, tập hết yếu nghĩa tạothành 600 bài tụng, trong đó thường thêm chữ "truyền thuyết"biểu thị sự không tin hẳn chủ trương "Ba đời thật có,pháp thể hằng có" của Hữu bộ. Sáu trăm bài tụng này đượcđưa đến Ca-thấp-di-la, các học giả Ca-thấp-di-la rất hoannghênh và yêu cầu giải thích, ngài đã giải thích và đúckết thành bộ luận Câu-xá với nội dung trình bày theo sựhiểu biết độc lập của mình chứ không thiên vị tông pháinào. Tuy ngài theo Hữu bộ, nhưng nếu giáo nghĩa nào của Hữubộ không đúng thì ngài đều bỏ qua, còn nếu giáo nghĩanào của Kinh bộ mà đúng thì thì ngài thu lấy, mục đíchlà trừ bỏ bịnh tình chấp ngoan cố hẹp hòi từ trướccủa nhà Hữu bộ, để phát huy chân lý Phật, và phát huychân lý Phật tức là để giúp cho chúng sanh khai sinh trí tuệ,đoạn trừ phiền não, lấy đó làm cách duy trì Chánh pháptồn tại lâu dài ở thế gian. Xem bài tụng cuốn luận nàyđủ thấy ngài không theo hẳn giáo nghĩa chính thống củaHữu bộ: "Nghĩa lý của Ca-thấp-di-la đã hoàn bị. Có mộtít điều chê bai đó là lỗi ở tôi, nhưng phê phán đâu làchính, điều đó chỉ do ở đức Mâu-ni". Ðối với luậnCâu-xá này, Tây Vức Ký cuốn 4 đã viết: "Bấy giờ có Bồ-tátThế Thân chuyên tâm đạo mầu, tìm hiểu nghĩa lý bên ngoàingôn ngữ, phá chỗ mê chấp của Tỳ-bà-sa, tạo luận Câu-xá,lời lẽ nghĩa lý tinh vi, lý trí cao siêu trong sáng".

Dolẽ trên nên khi luận Câu-xá ra đời được mọi người hoannghênh nghiên cứu và được tôn là Thông minh luận, khiếnLuận sư Chúng Hiền viết Thuận Chánh Lý luận 80 cuốn đểkích bác lại.

C.TỔ CHỨC CỦA BỘ LUẬN CÂU-XÁ.

Nhưđã biết, luận này nhằm mục đích phá thiên chấp của Hữubộ để làm sáng tỏ chân lý của giáo pháp. Tuy nhiên, đểthấy rõ chân lý ấy, Luận được trình bày như sau: Toànbộ luận này có 30 cuốn chia làm 9 phẩm:

1.Phẩm Phân biệt giới, 2 quyển
2.Phẩm Phân biệt căn, 5 quyển
3.Phẩm Phân biệt thế gian, 5 quyển
4.Phẩm Phân biệt nghiệp, 6 quyển
5.Phẩm Phân biệt tùy miên, 3 quyển
6.Phẩm Phân biệt hiền thánh, 4 quyển
7.Phẩm Phân biệt trí, 2 quyển
8.Phẩm Phân biệt định, 2 quyển
9.Phẩm Phân biệt ngã, 1 quyển

Chínphẩm này nhằm thuyết minh hai điều:

1.Tám phẩm đầu (29 quyển): Thuyết minh sự tướng của cácpháp.
2.Phẩm Phá ngã (1 quyển): Thuyết minh lý vô ngã.

Hoặcnói rõ hơn, toàn bộ Luận không ngoài thuyết minh về bốnnghĩa chính sau đây:

1.Thể dụng của vũ trụ vạn hữu (phẩm Giới và Căn).
2.Nhân và quả của mê (các phẩm 3, 4 và 5).
3.Nhân và quả của ngộ (các phẩm 6, 7 và 8).
4.Ðạo lý vô ngã (phẩm 9).

Ðồbiểu:
1.Thể dụng các phápThể(P.1)Nóitổng quát pháp hữu lậu, vô lậu.
Dụng(P.2)
2.Nhân quả của mêQuả(P.3)Nóiriêng về hữu lậu (mê)
Thânnhân (P.4)
Sơduyên (P.5)
3.Nhân quả của ngộQuả(P.6)Nóiriêng về vô lậu (ngộ)
Thânnhân (P.7)
Sơduyên (P.8)
4.Ðạo lý vô ngã(P.9)

D.TÔN CHỈ CỦA LUẬN

Nhưtổ chức của Luận này chắc chắn nó phải có đối tượngtôn sùng và có chủ đích để làm tôn chỉ. Vậy tôn chỉcủa nó là gì? Ðó là: "Quán sát cùng tột lý nhân quả củamê và ngộ để đạt đến chân trí vô lậu của Niết-bàn".Tại sao nói như vậy? Bởi lẽ, nếu không nhằm mục đíchấy, thì thuyết minh về thể tánh, tác dụng của vạn hữuở hai phẩm Giới và Căn gồm 7 quyển để làm gì? Thuyếtminh về nhân và quả của mê ở ba phẩm Thế gian, Nghiệp,Tùy miên gồm 14 quyển, để làm gì? Thuyết minh về nhân vàquả của ngộ ở ba phẩm Hiền Thánh, Trí, Ðịnh gồm 8 quyển,để làm gì? Và đả phá chủ trương Hữu ngã của luận pháicổ đại Aán Ðộ như Số luận (Samkhya) và Thắng luận (Vaisesika)và Ðộc tử bộ ở phẩm Phá ngã 1 quyển, để làm gì? Tấtcả đều nhằm mục đích phát khởi chân trí vô lậu củachúng sanh để quét sạch trần cấu vọng niệm vô minh màđạt đến Niết-bàn. Cứ xem đề mục của Luận thì càngthấy rõ tôn chỉ của nó. Ðề mục của Luận là: A-tỳ-đạt-maCâu-xá (Abhidharma Kosa). A-tỳ (Abhi) dịch là đối; Ðạt-ma(Dharma) dịch là pháp;Câu-xá (Kosa) dịch là tạng. Vậy A-tỳ-đạt-maCâu-xá là Ðối pháp tạng.

Ðốicó hai nghĩa: 1. Ðối quán lý mê ngộ (lý Tứ đế). 2. Ðốihướng quả Niết-bàn. Nhưng lấy cái gì để đối quán vàđối hướng? Ðó là trí tuệ vô lậu chân chính. Luận nàychứa đựng trọn vẹn trí tuệ ấy nên mệnh danh là Ðốipháp tạng. Ðã gọi là Ðối pháp tạng, thì tôn chỉ đượcthuyết minh trong đó không ngoài trí tuệ đối pháp.

Tómlại, giáo nghĩa của Luận này tuy trăm sai ngàn biệt, nhưngtôn chỉ trọng yếu không ngoài khai phát trí tuệ vô lậumà thôi.

Ð.PHIÊN DỊCH VÀ HOẰNG TRUYỀN

Luậnđược truyền sang do hai nhà dịch: Chân Ðế - người nướcƯu-thiền-ni (Ujyaini) ở Aán Ðộ sang Trung Hoa dịch thành 22quyển dưới triều Trần Văn Ðế, niên hiệu Thiên Gia thứ4 (563 TL), được các Ngài Trí Khải đời Trần và Tịnh Huệđời Ðường viết sớ giải truyền bá. Người thứ hai làHuyền Trang đời Ðường dịch thành 30 quyển, trong nhữngnăm 650 TL và có các Ngài Thần Thái, Phổ Quang, Pháp Bảo,Viên Huy, Huệ Huy viết sớ giải truyền bá. Từ đó, Luậnnày trở thành bộ Luận căn bản của Câu-xá tông tại TrungHoa.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/11/2021(Xem: 11557)
Vô Tầm Vô Tứ Định là tầng Định thứ hai trong bốn chi Thiền do đức Phật thiết lập. Bốn chi Thiền đó gồm Sơ Thiền tương xứng với Sơ Định hay Định Hữu Tầm Hữu Tứ, Nhị Thiền tương xứng với Vô Tầm Vô Tứ Định, Tam Thiền tương xứng với Xả hay An Chỉ Định, Tứ Thiền tương xứng với Chánh Định.
08/11/2021(Xem: 23464)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 26236)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
04/10/2021(Xem: 5365)
Trong những gì tôi được đọc và được nghe kể, hình như nhà thơ Bùi Giáng không còn tham sân si, hay nếu còn, thì rất là ít. Không rõ có ai chứng kiến lúc nào Bùi Giáng khởi tâm tham sân si hay không. Rất nhiều người đã thân cận, đã chứng kiến đời thường của nhà thơ họ Bùi và đều nhận thấy nhà thơ như là người của cõi khác, người bay trên mây, người lạc tới thế gian này, như dường không còn chút nào tham sân si; hay chỉ còn, nếu có, thì rất ít.
05/09/2021(Xem: 28994)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
18/08/2021(Xem: 7833)
Hôm nay là ngày 15/8 dương lịch nhằm ngày mồng Tám tháng Bảy, Tân Sửu. Chỉ còn một tuần nữa là tới Rằm tháng Bảy. Rằm tháng Bảy âm lịch là ngày mà các chùa theo đạo Phật khắp nơi trên thế giới đều tổ chức Lễ Vu-Lan rất trọng thể. Lễ Vu-Lan từ lâu đã được xem như là ngày Lễ Báo Hiếu của những người con dành cho bậc cha mẹ.
23/07/2021(Xem: 31575)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
07/05/2021(Xem: 33070)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC
29/11/2020(Xem: 20437)
“Ma” tiếng Phạn gọi là Mara, Tàu dịch là “Sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết-bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là Ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong "Niệm Phật Thập Yếu", Ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: Phiền não ma, Ngoại ma và Thiên ma
04/11/2020(Xem: 13938)
Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả. Họ giải thoát được sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết-Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống Phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được Tuệ kiến về sự Phi hiện hữu của “Ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự Phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một "Đấng Sáng Tạo" hay tin vào “Linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy.