Đối phó và lắng nghe

28/03/201407:19(Xem: 6904)
Đối phó và lắng nghe

Trong dòng chảy thời cuộc, con người ta luôn bị đặt trong tư thế ứng phó. Sự ứng phó đó có lúc là để thích nghi, có khi là giải pháp tình thế và thậm chí là để khẳng định thế đối lập. Thật khó tưởng tượng trước kết quả của các hiện tượng này và không thể khẳng định được việc nào đúng việc nào sai hay việc nào đi chệch đường, bởi vì tất cả đều có ẩn sâu trong đó một chủ đích.

Trong dòng chảy khắc nghiệt đó, các tổ chức chính trị, xã hội v.v… bị cuốn hút vào đó để mong tìm ra hướng đi gọi là mới cho mình, cho tổ chức, tập thể mình mà thực chất đó cũng chỉ là động thái tùy thuận. Riêng về khía cạnh kinh tế, sự nhạy bén và thích ứng triệt để luôn được chọn làm tư thế tiên phong, luôn dành cho mình sự chủ đông mạnh mẽ để sống còn mà …kinh doanh! Vì thế người ta cho rằng sự thích ứngcủa khía cạnh kinh tế không phải là mệnh đề đại diện, nói thay các mặt hoạt động khác, và không thể là tiêu biểu của cách sống và lối sống của đạo đức con người.

Về mặt đạo đức, xã hội. Không nói chúng ta cũng dễ dàng nhận ra ngay câu trả lời là nó luôn đi ngược lại tất cả những cái mớicái thích ứng đó. Vì nó là hình thể và là bản chất sống của con người lẫn vạn vật. Nó đi trước tất cả, sớm có mặt ngay từ thuở hoang sơ của sự sống, khi con người biết vận dụng tư duy trong cách sống quần thể.

Như vậyứng phóthích nghicủa hai mặt đã có những cách biệt tự nhiên đó. Nhưng dường như về sau này, trong nhiều lãnh vực, người ta quên hẳn điều này, dồn chung tất cả vào một khái niệm để hành động là thích nghiứng phó. Từ đây biến nó thành căn bệnh trầm kha, triền miên trong cõi người ta. Thật sai lầm biết bao, từ đó phát sinh nhiều hệ lụy. Xung đột, chia rẽ nhận thức cũng từ đó manh nha, cộng hưởng và cùng tồn tại.

Từ trong khái niệm của con người, thử nói qua cái gọi là chân lý(lý thuyết đạo lý chân chính, để đối phó với lý thuyết sai trái) hay chánh đạo (con đường của lý thuyết chân chính để đói phó với tà đạo). Như vậy đã là chân lý, chánh đạothì không có chuyện sửa sai hay đổi mới cho phù hợp. Sửa sai hay đổi mới trong trường hợp này đích thị là ứng phócho… thích nghi! Nếu như vậy phải gọi là đa lý-tạp lý (chứ không là chân lý) và cong đạo(chứ không là chính đạo). Điều này khiến chúng ta nhớ đến câu nói bất hủ của nhà vật lý lừng danh Albert Einstein (1879 – 1955), trong đó có đoạn “…Tôn giáo của tương lai phải là thứ tôn giáo của khoa học vũ trụ. Tôn giáo đó không cần sửa đổi hay đổi mới cho phù hợp với khoa học và cuộc sống thời đại…Tôn giáo đó chỉ có thể là Phật giáo mà thôi…”Nhà vật lý lừng danh này đã cho thời đại chúng ta thấy được sự thật từ lời nói đó với rất nhiều sửa saiđổi mớicủa nhiều học thuyết, nhiều tôn giáo mà cách đây không lâu họ còn cho là tà đạo, không ngần ngại xử chết bất cứ ai nếu dám nói ngược lại sự hoang tưởng, để bảo vệ hình tượng họ đang tôn thờ.

Đó cũng làbài học ngàn vànghiện hữu có lẽ nào không giúp chúng ta thêm sáng mắt tỏ lòng để nhìn về một hướng mà từ hơn hai ngàn năm trăm năm qua đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni đã vạch ra, cho đến tận thời đại ngày nay con đường ấy ngày càng thêm thênh thang rộng mở, chưa hoen rỉ một giọt máu nào trên con đường chúng ta đi theo Ngài và chưa một lần phải làm một động tác sửa sai hay đổi mớinào?

Vì sao? Vì chư Tổ Sư ngàn xưa, chư Tôn Đức tài ba, trong các biến động xã hội hay thậm chí nguy hại đến bản thân mình, các Ngài vì đã nhận thức rõ chân lý vô thường Như Thịmà điềm tỉnh dung nạp, dù đó là nghịch duyên khốc liệt. các Ngài không đối phó mà chỉ ứng phó một cách hiền từ. Nhờ vậy đức thêm dầy, hạnh thêm cao, tự thân “đánh đổ” được dòng chảy đa sắc màu của cuộc sống với nụ cười vô cùng an lạc. Đây chính là nền tảng đạo lý muôn đời noi theo để gầy dựng một xã hội an lành, hạnh phúc, như phần đầu trên người viết có đề cập đến. Nó không bị tác động của thời cuộc bào mòn, không bị nghịch duyên làm méo mó hình ảnh chân lý Phật Đà.

Ngày nay, Phật giáo hòa nhập vào xã hội bằng hình thức tổ chức Giáo Hội, Hội đoàn v.v… một phần nào đó tự thân nó nói lên tiến trình làm bạn với tha nhân, sẵn sàng chấp nhận những va đập trần thế, dù chịu mất dần đôi chút tư thế tự tại vốn có của Phật gia. Biết hòa nhập cũng tức là biết chấp nhận đúng saicủa trần thế. Từ đây chúng ta phải trang bị cho mình một tinh thần cầu thị, biết lắng nghe để từng bước hoàn thiện tinh thần hòa nhập. Trên tinh thần này, không nên dùng hình ảnh đức Thế Tôn khi xưa so sánh với tổ chức mình, dù đang trong trạng thái tiêu cực hay tích cực, e quá đáng và rất nghịch lý. Ngay như trong những biến động thời cuộc, con người và hoàn cảnh thời Phật còn tại thế hoàn toàn chưa đúng như suy diễn của những tư duy áp đặt hiện nay. Đó là chưa nói đến các quốc gia có tinh thần Phật giáo khác trên toàn thế giới, nếu tất cả đều dành phần hình ảnh đức Phật so sánh cho riêng quốc độ mình với nhiều ẩn dụ, màu sắc, kèm theo nhiều lý lẻ khác…thì sẽ ra sao? Đó chắc chắn sẽ là một hình ảnh đức Phật bị dị dạng không hơn. Tội lắm!

Mấy ngày nay, lang thang trên net, đọc nhiều thông tin thú vị với nhiều cuộc Đại hội PG khắp các tỉnh thành. Nhưng đáng buồn thay, chỉ đếm được trên đầu ngón tay một vài bài viết hết sức chân tình, muốn gởi gấm thiện ý mình cho tổ chức Giáo hội mà mình tin tưởng. Rất bái phục. Nhưng có lẽ buồn hơn thế nữa là có những comments, có cả bài viết công kích lại những thiện chí đó bằng những lối sát hạch từ chương, rất tiểu tiết. Có người có hẳn một website hay blog cá nhân hẳn hoi và dùng tên thật hoặc pháp danh. Người viết những comments thiếu thiện cảm này lại chỉ là những nickname bay bổng, tỏ rõ dấu hiệu thiếu chân thật. Tất nhiên, không có quy định nào trong việc dùng nickname vô thưởng vô phạt nhưng với trường hợp này thì rất đối lập. Tính chân thật bao giờ cũng vẫn luôn được trân trọng.

Như vậy chẳng khác nào chúng ta tự lâm vào mê trận, luôn luôn cảnh giác và đối phó. Sẽ rất khó khăn nếu như muốn người khác đồng thuận mà thiếu tính chân thật và tư tưởng luôn dao động, đối phó như vậy.

Biết nghe lời trái ý mình (Nói theo nhà thơ trào phúng Tô Liên Bửu là Dám Nghe Lời Trái ý Mình)là một điều không phải ai cũng dễ dàng làm được. Đôi khi đó còn là vướng mắc của quyền lợi, danh vọng, Có tổ chức tức có chức vị, có chức vị tức đã là danh lợi, nên rất khó tránh khỏi bị vướng mắc. Các ý kiến khác, dẫu có thiện chí xuất phát từ đây cũng mất đi phần nào giá trị.

Chúng ta thật diễm phúc biết bao khi đã có một nền tảng đạo lý bất di dịch tuyệt vời đến là vậy làm chỗ tựa nương vững chắc. Còn lại chỉ là công hạnh tu tập, nỗ lực vươn lên của mỗi cá thể chúng ta mà thôi. Niềm tự hào to lớn này luôn là hành trang tiến bước của nhiều thế hệ Phật tử chúng tôi, nhưng nó cũng khác rất xa những điều bất di bất dịchcủa một tổ chức Giáo Hội mà việc đổi mới nhiều mặt hãy vẫn còn là điều rất xa lạ.

Khi người viết trách móc mấy vị đạo hữu phụ trách vài website Phật giáo rằng sao cả tuần nay không có bài nào mới thì được trả lời rằng:Anh ơi, Giáo Hội ba mươi năm kia mà còn y nguyên, không có gì mới, thì trách chi website chúng em chỉ mới có hai, ba năm nay thôi.

Nhập thế thì phải tùy thuận những hình thái trần thế để tồn tại mà hóa đạo. Đó là bước đầu tiên rất quan trọng. Đối phó không thể là chiến lược khôn ngoan của hậu duệ Tổ Sư ngàn đời đến nay vẫn còn lưu danh hậu thế.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/02/2015(Xem: 8548)
Trong một thập niên qua, trong hàng chục bài pháp thoại cho Tăng Ni và Phật tử đăng trên trang nhà Chùa Giác Ngộ[1] và trang nhà Youtube[2], tôi thường khẳng định rằng khái niệm “84,000 pháp môn” là do Phật giáo Trung Quốc đặt ra, chứ trên thực tế, đức Phật chỉ truyền bá con đường duy nhất là Tứ thánh đế, mà cốt lõi là nhận diện khổ đau, truy tìm nguyên nhân của nỗi khổ, niềm đau và thực tập bát chính đạo để đạt được niết-bàn ngay trong kiếp sống hiện tại này.
24/02/2015(Xem: 19614)
Lúc tôi viết những dòng về cuốn sách của Linh mục Nguyễn Văn Thư, thì bom đạn đang tiếp tục nổ trên một phần của trái đất, nhân mạng con người bị xem như cỏ rác. Hệ lụy nầy phải chăng có nguồn gốc từ các tôn giáo độc thần còn sót lại? Nhân loại ít có những ngày vui; phần lớn là chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh mà nhiều trường hợp y học tân tiến cũng đành chịu bó tay.
22/02/2015(Xem: 7307)
Đây là câu hỏi lớn, liên hệ đến quyết định của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Do vậy, việc trao đổi dưới đây chỉ là quan điểm cá nhân của riêng tôi. Trước hết, theo tôi, chúng ta phải mạnh dạn đánh giá lại giá trị và giới hạn của các pháp môn được Phật giáo Việt Nam tiếp nhận từ Phật giáo Trung Quốc. Khi đánh giá bằng các thống kê xã hội học cụ thể, ta sẽ rút ra được những kết luận nhất định. Vào năm 1945, dân số của nước Việt Nam khoảng 25 triệu người, trong đó Phật tử chiếm 80%. Đến năm 2013 chúng ta có trên dưới 90 triệu dân và số lượng Phật tử chỉ còn lại 38%. Đó là dữ liệu giúp ta đánh giá cách thức làm đạo của Phật giáo. Chúng ta phải thừa nhận rằng không phải cái gì của Phật giáo Trung Quốc truyền bá đều đúng và cần được tôn thờ như chân lý. Thước đo bằng thống kê trên sẽ giúp ta tránh được những quan điểm trái ngược: theo hay không theo, chịu ảnh hưởng hay không chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Quốc.
16/02/2015(Xem: 13477)
Bài học cho Việt Nam Những thái độ vô tâm, hờ hợt trước tình hình đất nước của chúng ta sẽ góp phần biến Việt Nam thành Tây Tạng thứ 2, âm mưu bành trướng của Bắc Kinh đang hướng về Việt Nam, chuyện này rồi sẽ xảy ra nếu mọi người vẫn chưa kịp thức tỉnh!
14/02/2015(Xem: 11403)
Ngày 08 tháng 10, 2003, một tuần lễ sau Đại Hội Bất Thường tại Tu Viện Nguyên Thiều cung thỉnh thành viên Viện Tăng Thống và Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, Hòa Thượng Huyền Quang, Hòa Thượng Quảng Độ và chư tôn đức lên đường vào Sàigòn nhưng thoạt đầu đã bị các cơ quan an ninh chính quyền ngăn chận, làm khó không cho đi.
10/02/2015(Xem: 9285)
1) Khuynh hướng 1 xuất phát từ Trung Quốc trong giai đoạn mà các nhà Nho nắm vai trò lãnh đạo chính trị của Đại lục muốn dành cái quyền ngự trị quan điểm tư tưởng triết học tôn giáo của họ trên bề mặt nhận thức văn hóa và đời sống tinh thần của cư dân họ. Chủ trương họ đưa ra là Tam Giáo Đồng Nguyên. 2) Khuynh hướng 2 cho rằng tôn giáo nào cũng dạy con người “lánh ác làm lành” và đạo Phật cũng là một trong các tôn giáo như thế. Từ đó, với mục đích “Dĩ hòa vi quý” trong quá trình làm đạo chúng ta dễ dàng bị rơi vào các cái bẫy đó và cố đánh đồng bằng cách hạ thấp đạo Phật xuống để đẳng thức hóa với các tôn giáo vốn khác với đạo Phật.
30/01/2015(Xem: 8386)
"Việc chém con lợn đang sống khỏe mạnh là lối đối xử tàn ác, nó làm trơ lì cảm xúc của người xem, đặc biệt là trẻ em", ông Nguyễn Tam Thanh, cán bộ Phúc lợi Động vật, Tổ chức Động vật châu Á, trao đổi với VnExpress ngày 29/1.
30/01/2015(Xem: 28741)
“Việt Nam Thi Sử Hùng Ca” được tôi (TNT Mặc Giang) sáng tác vào tháng 9 năm 2003. Từ năm 2003-2005, tác phẩm này do tôi tự in ấn nhiều lần bằng hình thức Photocopy, biếu tặng những người quen biết và người thân tại Việt Nam và tại Úc. Tôi dự tính xuất bản chính thức quyển Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, nên đã nhờ SG. Phạm Trần Quốc Việt viết Lời giới thiệu từ năm 2005. Vì những trục trặc ngoài ý muốn, nhất là gặp khó khăn về tài chính, tôi đã chưa thể xuất bản chính thức. Ông Phạm Trần Quốc Việt nay vẫn còn khỏe mạnh. Lời giới thiệu của ông tôi vẫn tôn trọng giữ nguyên trong ấn bản internet tại trang nhà Hương Đạo.[1] Thực ra, từ mười năm qua, trang nhà Lương Sơn Bạc online[2] tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của tôi, đúng với nguyên văn của tôi sáng tác.
22/01/2015(Xem: 14167)
Điểm đến của người tu học Phật thường là chứng ngộ (đắc đạo). Nhưng tại sao gần đây, ta cũng hay nghe nói Vãng sanh Cực Lạc như một kết quả cho việc hành trì. Vậy, Chứng ngộ và Vãng sanh khác nhau thế nào, và có gì chống trái giữa hai từ ngữ ấy? Vãng sanh là mục tiêu chân chánh và khẩn thiết nhất của những người hướng đến đạo giải thoát và là ước mong nhiệt thành của hành giả Niệm Phật, sau những năm tháng tu tập.
20/01/2015(Xem: 7571)
Không thể phủ định rằng giáo dục Phật giáo dựa trên ba phương diện minh triết Phật dạy bao gồm giáo dục đạo đức (giới), giáo dục chuyển hóa (thiền) và giáo dục tri thức giải quyết vấn nạn (tuệ). Người được đào tạo trong trường Phật học, ngoài kiến thức thông thường còn thực tập chuyển hóa, mang tính ứng dụng thực tiễn và có khả năng giải quyết các nỗi khổ niềm đau của bản thân và tha nhân. Để nền giáo dục Phật giáo tại Việt Nam đáp ứng được các mục đích nêu trên, chương trình đào tạo Phật học tại Việt Nam cần có sự thích ứng với xu thế giáo dục Phật học trên thế giới là điều không thể bỏ qua. Trong bài viết này, tôi trình bày vài nét về a) Bản chất đào tạo Phật học, b) Nền Phật học Tây Tạng và c) Hướng đến cải cách giáo dục Phật học tại Việt Nam. Các vấn đề trên chỉ được nêu ra một cách khái quát, chưa đi sâu vào việc phân tích.