Một thời khát sách

31/12/201007:54(Xem: 5362)
Một thời khát sách

Thu Vien 2

Khi thấy những không gian ngập tràn sách trong ngày hội sách đang diễn ra ở nhiều thành phố lớn, lòng tôi rộn lên một niềm vui khó tả. Tôi bỗng nhớ về những ngày chật vật gom từng cuốn sách từ nước ngoài về Việt Nam, thời chúng ta còn hiếm sách.

Tôi từ Singapore về lại Việt Nam lần đầu vào cuối thập niên 1980. Sài Gòn lúc ấy vắng hoe. Các nhà sách ở đường Đồng Khởi còn tiêu sơ với một ít sách cũ kỹ đặt trên những chiếc kệ thô sơ. Mỗi lần về công tác, tôi thường tìm mua sách mới xuất bản trong tháng, mà gom tất cả cũng chỉ vừa một vali xách tay. Nhận thấy nhu cầu cấp bách cần chuyển tải những kiến thức mới cho giới trẻ, khi về lại Singapore, tôi tìm cách quyên sách để gửi về nước. Ban đầu, tôi viết một lá thư rồi nhân lên 100 bản gửi đến các nơi quen biết, bạn bè, trường cũ… để xin sách. Với cách này, tôi quyên được 1.500 cuốn, gửi tặng Viện Kinh tế Hà Nội và Sài Gòn. 

Con số 1.500 cuốn chỉ như muối bỏ biển. Nhiều nhất trong số này là sách do nhà xuất bản Simon & Schuster - Prentice Hall tặng. Qua tìm hiểu, tôi biết họ có một kho sách khổng lồ ở Singapore để phân phối khắp châu Á. Tại kho sách này, tôi khám phá ra một núi sách còn mới nguyên nhưng tồn kho do nhập dư hoặc không bán hết. Nay họ phải mang ra bán giấy vụn để tránh phá giá thị trường. Tôi đã kiên nhẫn thuyết phục để mua lại với giá rẻ hàng tấn sách về chuyên ngành kỹ thuật, y khoa, luật, quản trị kinh doanh, giáo dục...

Container 17 tấn với khoảng 20 nghìn cuốn chuyển về trong chuyến đầu tiên đã vấp phải khó khăn ngay từ lúc khởi đầu. Khi biết sách sẽ được chuyển về Việt Nam, tôi bị buộc phải nộp danh mục toàn bộ để kiểm duyệt vì sách vở cũng nằm trong danh sách những mặt hàng bị Singapore áp đặt cấm vận vào lúc ấy. Tôi đành khai là gửi giấy vụn thì container sách mới đi trót lọt. Về đến Sài Gòn, số sách đầu tiên được chuyển đến Viện Kinh tế để sắp xếp lại và phân phối, sau đó một buổi lễ tặng sách và một cuộc triển lãm được tổ chức trọng thể. Ông Phan Văn Khải, lúc ấy chưa nhậm chức Thủ tướng, có ghé đến thăm triển lãm và viết một lá thư khen tặng. Chính lá thư ấy là “lá bùa hộ mệnh” giúp cho chương trình “Biển Sách” được thuận buồm xuôi gió về sau.

Việc chuyển sách trong khoảng thời gian ấy quả là gian truân vì tôi bị kẹt giữa ba “làn đạn”: Bị phía Singapore “quan tâm”, bị nhiều nhóm Việt kiều chỉ trích, lại cũng gặp một số vấn đề từ trong nước. Nhưng nó cũng mang đến cho tôi những món quà tinh thần đặc biệt. Đến nay tôi thỉnh thoảng vẫn nhận được những lá thư từ những người không quen biết gửi đến nhắc lại chuyện sách ngày xưa. Một người gửi điện thư kể rằng: Ông từng là bộ đội. Sau khi giải ngũ, ông tình cờ khám phá ra một thư viện sách quý ở Viện Kinh tế. Từ đó ông đều đặn đến thư viện học hỏi để khởi đầu một cuộc đời mới. Ngày nay ông là tiến sĩ dạy về ngành quản lý. 

Một người khác kể, ông từng mượn vợ chiếc nhẫn cưới đi cầm để mua sách. Với những gì học được từ sách, ông tự chế được đĩa vệ tinh, bắt được đài CNN để học tiếng Anh. Nhờ đó, bạn bè lối xóm tấp nập đặt hàng. Chỉ một thời gian ngắn sau, ông có đủ tiền mua tặng lại cho vợ ba chiếc nhẫn. Tôi không ngạc nhiên khi biết ông là giáo sư trường Bách Khoa, cũng như tôi luôn nghĩ người Việt nói chung vốn rất thông minh và hiếu học. Nếu có may mắn được học hỏi, người Việt sẽ không thua kém bất cứ ai.

30 năm đã trôi qua, những hình ảnh của hội sách hôm nay đã cho thấy sách không còn khan hiếm. Nhưng niềm khát sách trong tôi vẫn nguyên vẹn. Ước vọng của tôi là thế hệ trẻ sẽ đưa sách đi xa hơn và rộng hơn nữa, sẽ có thêm nhiều hội sách tại các thành phố, nhiều thư viện tại các vùng xa xôi hẻo lánh để kiến thức mới được lan tỏa khắp nơi. Bởi “tri thức là chìa khoá vạn năng mở mọi cánh cửa” rồi từ đó có thể giúp cho đất nước chóng giàu mạnh.

Võ Tá Hân

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/03/2015(Xem: 19028)
Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
10/03/2015(Xem: 11008)
Trong diễn đàn này nhiều quý bạn hữu đã nói về niệm Phật A-Di-Đà bốn chữ hay sáu chữ. Theo tôi thì chúng ta đã học Mười hạnh Phổ-Hiền thì bình-đẳng kính chung không từ một ai, nhưng tin vào lời người ta nói thì phải có sự quán xét đúng hay sai. Đặc biệt với Phật pháp và giáo lý nhà Phật thì đòi hỏi phải thật nghiêm túc nếu không sai một ly đi vạn dặm, có khi mất hết cả công sức bao nhiêu năm tu hành bỏ ra mà không thành tựu, thậm chí còn sa hố là phỉ báng chính pháp, phát đi những điều không đúng về giáo lý của Phật.
28/02/2015(Xem: 8581)
Trong một thập niên qua, trong hàng chục bài pháp thoại cho Tăng Ni và Phật tử đăng trên trang nhà Chùa Giác Ngộ[1] và trang nhà Youtube[2], tôi thường khẳng định rằng khái niệm “84,000 pháp môn” là do Phật giáo Trung Quốc đặt ra, chứ trên thực tế, đức Phật chỉ truyền bá con đường duy nhất là Tứ thánh đế, mà cốt lõi là nhận diện khổ đau, truy tìm nguyên nhân của nỗi khổ, niềm đau và thực tập bát chính đạo để đạt được niết-bàn ngay trong kiếp sống hiện tại này.
24/02/2015(Xem: 19665)
Lúc tôi viết những dòng về cuốn sách của Linh mục Nguyễn Văn Thư, thì bom đạn đang tiếp tục nổ trên một phần của trái đất, nhân mạng con người bị xem như cỏ rác. Hệ lụy nầy phải chăng có nguồn gốc từ các tôn giáo độc thần còn sót lại? Nhân loại ít có những ngày vui; phần lớn là chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh mà nhiều trường hợp y học tân tiến cũng đành chịu bó tay.
22/02/2015(Xem: 7334)
Đây là câu hỏi lớn, liên hệ đến quyết định của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Do vậy, việc trao đổi dưới đây chỉ là quan điểm cá nhân của riêng tôi. Trước hết, theo tôi, chúng ta phải mạnh dạn đánh giá lại giá trị và giới hạn của các pháp môn được Phật giáo Việt Nam tiếp nhận từ Phật giáo Trung Quốc. Khi đánh giá bằng các thống kê xã hội học cụ thể, ta sẽ rút ra được những kết luận nhất định. Vào năm 1945, dân số của nước Việt Nam khoảng 25 triệu người, trong đó Phật tử chiếm 80%. Đến năm 2013 chúng ta có trên dưới 90 triệu dân và số lượng Phật tử chỉ còn lại 38%. Đó là dữ liệu giúp ta đánh giá cách thức làm đạo của Phật giáo. Chúng ta phải thừa nhận rằng không phải cái gì của Phật giáo Trung Quốc truyền bá đều đúng và cần được tôn thờ như chân lý. Thước đo bằng thống kê trên sẽ giúp ta tránh được những quan điểm trái ngược: theo hay không theo, chịu ảnh hưởng hay không chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Quốc.
16/02/2015(Xem: 13607)
Bài học cho Việt Nam Những thái độ vô tâm, hờ hợt trước tình hình đất nước của chúng ta sẽ góp phần biến Việt Nam thành Tây Tạng thứ 2, âm mưu bành trướng của Bắc Kinh đang hướng về Việt Nam, chuyện này rồi sẽ xảy ra nếu mọi người vẫn chưa kịp thức tỉnh!
14/02/2015(Xem: 11651)
Ngày 08 tháng 10, 2003, một tuần lễ sau Đại Hội Bất Thường tại Tu Viện Nguyên Thiều cung thỉnh thành viên Viện Tăng Thống và Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, Hòa Thượng Huyền Quang, Hòa Thượng Quảng Độ và chư tôn đức lên đường vào Sàigòn nhưng thoạt đầu đã bị các cơ quan an ninh chính quyền ngăn chận, làm khó không cho đi.
10/02/2015(Xem: 9404)
1) Khuynh hướng 1 xuất phát từ Trung Quốc trong giai đoạn mà các nhà Nho nắm vai trò lãnh đạo chính trị của Đại lục muốn dành cái quyền ngự trị quan điểm tư tưởng triết học tôn giáo của họ trên bề mặt nhận thức văn hóa và đời sống tinh thần của cư dân họ. Chủ trương họ đưa ra là Tam Giáo Đồng Nguyên. 2) Khuynh hướng 2 cho rằng tôn giáo nào cũng dạy con người “lánh ác làm lành” và đạo Phật cũng là một trong các tôn giáo như thế. Từ đó, với mục đích “Dĩ hòa vi quý” trong quá trình làm đạo chúng ta dễ dàng bị rơi vào các cái bẫy đó và cố đánh đồng bằng cách hạ thấp đạo Phật xuống để đẳng thức hóa với các tôn giáo vốn khác với đạo Phật.
30/01/2015(Xem: 8456)
"Việc chém con lợn đang sống khỏe mạnh là lối đối xử tàn ác, nó làm trơ lì cảm xúc của người xem, đặc biệt là trẻ em", ông Nguyễn Tam Thanh, cán bộ Phúc lợi Động vật, Tổ chức Động vật châu Á, trao đổi với VnExpress ngày 29/1.
30/01/2015(Xem: 29298)
“Việt Nam Thi Sử Hùng Ca” được tôi (TNT Mặc Giang) sáng tác vào tháng 9 năm 2003. Từ năm 2003-2005, tác phẩm này do tôi tự in ấn nhiều lần bằng hình thức Photocopy, biếu tặng những người quen biết và người thân tại Việt Nam và tại Úc. Tôi dự tính xuất bản chính thức quyển Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, nên đã nhờ SG. Phạm Trần Quốc Việt viết Lời giới thiệu từ năm 2005. Vì những trục trặc ngoài ý muốn, nhất là gặp khó khăn về tài chính, tôi đã chưa thể xuất bản chính thức. Ông Phạm Trần Quốc Việt nay vẫn còn khỏe mạnh. Lời giới thiệu của ông tôi vẫn tôn trọng giữ nguyên trong ấn bản internet tại trang nhà Hương Đạo.[1] Thực ra, từ mười năm qua, trang nhà Lương Sơn Bạc online[2] tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của tôi, đúng với nguyên văn của tôi sáng tác.