5. Quan âm tống tử văn

24/03/201102:03(Xem: 6398)
5. Quan âm tống tử văn

TAM BẢO VĂN CHƯƠNG
Đoàn Trung Còn biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

III. CÁC THỂ VĂN BIỀN NGẪU

(biền văn dụng niêm, biền văn dụng vận)

QUAN ÂM TỐNG TỬ VĂN

Cụ Ba Voi

Nông nổi chân bèo khách địa,
phận phù sanh về với kiếp thiêu hôi;
Ngậm ngùi gốc tử cố hương;
lời vĩnh quyết theo cùng dòng mặc lệ!
Khuất mặt gọi để sau làm dấu;
khấu đầu vâng dẫn trước xin thưa:
Thuở thác sanh vào chốn hoa tông,
phận xử nữ dám lòa gương hiếu kính;

Khi tác hợp nhờ tay nguyệt lão,
bạn lương nhân bao trễ dạ trinh thuần.
Nghĩ một bề trọn đạo nghi gia;
để dôi đức đành lòng nguyện thất.
Duyên kết tóc mới nên lời nguyện ước,
chỉ đào lá thắm trăm năm;
Nỗi cắt râu ai rắp mối oan khiên,
cầu Thước sông Ô đôi bến.
Cầm ngọc đã đành ngang khúc phượng,
lầu hồng thêm để thẹn gương loan.
Mai chia cành, chạnh nổi phu thê,
chếch mác buồn duyên ngàn dặm nguyệt;
Dâu ngã bóng, cảm tình phụ mẫu,
dở dang cửa đức một chồi hoa!
Hẳn sanh xưa chưa trọn đường tu;
nên nợ cũ còn theo quả kiếp?
Hương mật đảo luống trông vời Bắc Đẩu,
tiếng quyên đứt nối buổi tàn canh.
Nước giải oan còn khơi suối Tây thiên,
giấc bướm đi về nơi Lạc thổ.
Đã ly biệt lỗi cùng nhất nhật;
phải tu hành độ lấy tam sanh.
Ngẫm duyên xưa mình xót một mình,
cả lòng quyết thay xiêm đổi áo;
Tới cảnh lạ bước dừng nửa bước,
bạch thầy xin thắp nến, dâng nhang.
Mặt vâng chữ Kính là tên;
tai lắng lời răn để dạ.
Bèo bọt trôi về bể Thích,
biết thân này đã chắc Phật hay Tiên;
Sồng nâu ngã xuống màu thiền,
đành quả ấy phải nguyền non với nước.
Miễn con trẻ vui về thú tịnh;
họa trời già xét đến niềm trai.
Tưởng cảnh nhà khi trận nhạn ghét sương,
hiếu, nghĩa đôi đường còn tủi tý;
Lắng tiếng kệ thuở chày kình nện nguyệt,
sắc, không hai chữ sẽ nguôi lần.
Thiện căn hằng khuya sớm vun trồng;
Phúc ấm họa mai sau trọn vẹn.

Dưa muối chốn người ưa với cảnh,
dám để hơi trần chướng lọt vào;
Trăng hoa khen nhà khéo sanh con,
bỗng đem mối phong tình buộc lại!
Nghiệp còn nặng, lòng từ khôn lẽ chối;
tình có ngay mắt tục dễ ai tin.
Phép công hổ tiếng tiểu Tăng,
giọt nước cành dương bao rửa bụi;
Khoán cũ nặng lòng sư trưởng,
đóa mây đỉnh Thứu cũng tuôn sầu!
Rắp bạch sòng cho rõ mặt nhân gian;
song tu trót kẻo thẹn lòng Thượng giới.
Dây chân dám dày sân Tĩnh địa,
giữ chiền ra tựa mái Tam quan;
Vốn lòng từ chẳng thẹn nén chân nhang,
niệm lạy về nơi Cửu tự.

Bể khổ chìm bao được nổi;
nợ trần trả chửa hay xong.
Nhai sương mớm tuyết chịu cho ai,
ngoài chín tháng đôi tay con nhện mọn.
Dãi gió dù sương liều với kiếp,
trong ba thu một xác cái ve gầy.
Xa xôi bao quản cửa Già Lam;
tươi héo khôn nài cơ tạo hóa.
Cảnh vắng nào thầy, nào tiểu,
giọt nước đồng thánh thót thuở trăng khuya;
Đèn tàn bên mõ, bên con,
mồ hôi đá đầm đìa cơn gió thoảng.
Giấc trần mộng nằm lâu cũng mỏi;
bạn kim sanh đến thế là thôi.
Lỗi sanh nên phải bước bèo mây,
đôi gánh cù lao chồn lại nặng;
Vụng hóa chưa tròn duyên thông suối,
một thơ thê oán gởi về không.
Đã cam kiếp ấy chốn sông Ngân;
bao biết thân sau vào cửa phúc.


Hồn hồ điệp từ đây muôn kiếp,
nước non diệu vợi biết con đâu;
Nghĩa minh linh cũng gọi một ngày,
hương khói mai sau đành chán đấy.
Tình dài vắn thêm rầu khúc vượn;
Đường xa xôi nên mượn cánh hồng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/07/2011(Xem: 28912)
Tiếng chuông chùa mãi ngân vang, vào lúc buổi bình minh vừa thức giấc hay lúc chiều về, đem theo âm thanh ấm cúng, chan chứa tâm tình, lan rộng ra khắp không gian. Từ bao đời qua, tiếng chuông chùa trở thành nề nếp đẹp của văn hoá tâm linh cho mọi người, với nhịp khoan thai, nhịp nhàng, trong âm vang như chứa những niềm vui, hỷ lạc, một tấm lòng nào đó, khó diễn tả được.
09/05/2011(Xem: 5458)
Sớm mai ấy, nơi vườn Lâm Tỳ Ni hoa Vô Ưu Mạn Đà La bừng nở và chim Ka Lăng Tần Già bay lượn, cất tiếng hót vang lừng đón mừng thái tử Tất Đạt Đa...
24/03/2011(Xem: 11252)
Đức Phật thuyết Pháp, chư tăng gìn giữ pháp Phật để vĩnh viễn lưu truyền làm đạo lý tế độ quần sanh. Vì thế, Phật, Pháp và Tăng là ba món báu của chúng sanh...
28/01/2011(Xem: 8282)
Nếu chọn một số tròn để ghi lên cột mốc thời gian của những mùa Xuân lạc xứ, xa nhà thì tôi sẽ đề số 35/30 trên cột mốc năm nay. Đây không phải là số tuổi chín muồi của một cặp vợ chồng lý tưởng; cũng chẳng phải là hai con số cặp kè của sự phân chia bí ẩn nào đó. Nó chỉ đơn giản như những mùa xuân qua đếm bằng cuốn lịch trên tường và tóc bạc trên đầu. Con số đó là dấu chỉ của dòng thời gian nhớ nhớ, quên quên: 35 năm sống trên quê mẹ và 30 năm sống ở quê người. Ở tuổi về hưu, một người sống gần trọn đời giữa hai thế giới. Người ấy sẽ là ai ở giữa mùa Xuân?... Trời Cali suốt cả tháng cuối năm mưa buồn như mưa Huế. Trong bầu trời tím lịm của mưa lạnh, người ta mới nghĩ tới mùa Xuân. Tôi lắng lòng nhìn lại cột mốc mùa Xuân của đời mình...
14/01/2011(Xem: 18895)
Vạt nắng vui đùa cơn gió thoảng nụ cười hoa nở lúc xuân sang chân tình từng bước ru hoang dại mở cánh mai vàng đón ước mơ ta đi tìm đến cửa thiên thanh từ thưở lòng son ngủ giấc dài bao thiên niên kỷ, nhìn mây nước giật mình, thấy bóng vẫn không phai..
14/01/2011(Xem: 15996)
Đã lâu rồi, gặp lại nhau, chúng mình đều già hết. Người bạn thân ở lúc nào đó, nay nhìn lại, cũng khó nhận ra. Mái tóc đã bạc, vầng trán có nhiêu gạch dài, đôi mắt vẫn hoang vu như ngày nào. Tôi mỉm cười vì ngày xưa, anh cũng từng nhìn đôi mắt tôi, thăm dò. Lúc đó, cao hứng làm sao, tôi vội trả lời bằng hai câu thơ nhí nhố của tuổi trẻ “ mắt tôi chứa cả bầu trời. Mắt tôi ôm cả một đời thương yêu”..Thế mà thời gian đã vội trôi qua, phong trần đã cướp đi nhiều thứ trong anh, trong tôi..
30/12/2010(Xem: 3406)
Triển khai Ý niệm đoàn viên nằm trong đoạn thơ từ câu 2967 đến câu 3254 trong Truyện Kiều [1] , ngoài ý hướng „đọc lại“ những vần thơ đẹp trong ánh dương quang „ngày xuân con én đưa thoi“, với nỗi đồng cảm „chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“ về một mùa xuân nối tiếp mùa đông mà „đoàn viên“ là ý niệm của sự nối tiếp ấy, bài viết thử tìm lại ý nghĩa đích thực của đoạn văn này giữa mê hồn trận những quan điểm khác nhau về nó, cũng như tìm cách lý giải tư tưởng có tính Phật giáo then chốt của Nguyễn Du [2] trong „ý niệm đoàn viên“ như là ý niệm nhân quả toàn vẹn, là cánh cửa mở ra Niết bàn trong hiện tại, qua đó cho thấy trong thời đại của ông, Nguyễn Du là người đã thâm hiểu và cảm nhận đạo Phật trầm diệu và uyên bác đến nỗi triết lý đạo Phật dưới ngòi bút sáng tạo của ông trở nên dòng tư tưởng Việt Nam tuôn chảy linh hoạt và sống động mãi đến ngày hôm nay.
30/12/2010(Xem: 2864)
“Đoạn trường tân thanh” hay chúng ta quen gọi là truyện Kiều, là tác phẩm đã đưa tên tuổi Nguyễn Du lên hàng đại văn hào thế giới. Giá trị về tư tưởng, nghệ thuật của “Đoạn trường tân thanh” là điều khơng cĩ gì phải bàn cãi. Bao nhiêu những khảo luận, phê bình, nghiên cứu của rất nhiều học giả uyên bác, thuộc hàng đại thụ trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam suốt gần hai thế kỷ qua đã phần nào chứng minh điều đĩ.
30/12/2010(Xem: 2395)
Những con sóng bạc trường giang lắng mình, trở về hội ngộ cõi uyên nguyên huyền ảo, cõi ban sơ hoa hạnh ngân dài. Không gian tĩnh lặng. Hết thảy mọi tinh thể lần lượt hiển hiện như tự thân ban đầu của nó. Những cánh nhạn vút qua rồi lặng lẽ. Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh. Nhạn quá hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm vô ảnh hiện.
30/12/2010(Xem: 2549)
Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ, Thạch đài do kí “Phân kinh” tự. Đài cơ vu một vũ hoa trung, Bách thảo kinh hàn tận khô tử. Bất kiến di kinh tại hà sở? Vãng sự không truyền Lương thái tử Thái tử.