5. Quan âm tống tử văn

24/03/201102:03(Xem: 6092)
5. Quan âm tống tử văn

TAM BẢO VĂN CHƯƠNG
Đoàn Trung Còn biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

III. CÁC THỂ VĂN BIỀN NGẪU

(biền văn dụng niêm, biền văn dụng vận)

QUAN ÂM TỐNG TỬ VĂN

Cụ Ba Voi

Nông nổi chân bèo khách địa,
phận phù sanh về với kiếp thiêu hôi;
Ngậm ngùi gốc tử cố hương;
lời vĩnh quyết theo cùng dòng mặc lệ!
Khuất mặt gọi để sau làm dấu;
khấu đầu vâng dẫn trước xin thưa:
Thuở thác sanh vào chốn hoa tông,
phận xử nữ dám lòa gương hiếu kính;

Khi tác hợp nhờ tay nguyệt lão,
bạn lương nhân bao trễ dạ trinh thuần.
Nghĩ một bề trọn đạo nghi gia;
để dôi đức đành lòng nguyện thất.
Duyên kết tóc mới nên lời nguyện ước,
chỉ đào lá thắm trăm năm;
Nỗi cắt râu ai rắp mối oan khiên,
cầu Thước sông Ô đôi bến.
Cầm ngọc đã đành ngang khúc phượng,
lầu hồng thêm để thẹn gương loan.
Mai chia cành, chạnh nổi phu thê,
chếch mác buồn duyên ngàn dặm nguyệt;
Dâu ngã bóng, cảm tình phụ mẫu,
dở dang cửa đức một chồi hoa!
Hẳn sanh xưa chưa trọn đường tu;
nên nợ cũ còn theo quả kiếp?
Hương mật đảo luống trông vời Bắc Đẩu,
tiếng quyên đứt nối buổi tàn canh.
Nước giải oan còn khơi suối Tây thiên,
giấc bướm đi về nơi Lạc thổ.
Đã ly biệt lỗi cùng nhất nhật;
phải tu hành độ lấy tam sanh.
Ngẫm duyên xưa mình xót một mình,
cả lòng quyết thay xiêm đổi áo;
Tới cảnh lạ bước dừng nửa bước,
bạch thầy xin thắp nến, dâng nhang.
Mặt vâng chữ Kính là tên;
tai lắng lời răn để dạ.
Bèo bọt trôi về bể Thích,
biết thân này đã chắc Phật hay Tiên;
Sồng nâu ngã xuống màu thiền,
đành quả ấy phải nguyền non với nước.
Miễn con trẻ vui về thú tịnh;
họa trời già xét đến niềm trai.
Tưởng cảnh nhà khi trận nhạn ghét sương,
hiếu, nghĩa đôi đường còn tủi tý;
Lắng tiếng kệ thuở chày kình nện nguyệt,
sắc, không hai chữ sẽ nguôi lần.
Thiện căn hằng khuya sớm vun trồng;
Phúc ấm họa mai sau trọn vẹn.

Dưa muối chốn người ưa với cảnh,
dám để hơi trần chướng lọt vào;
Trăng hoa khen nhà khéo sanh con,
bỗng đem mối phong tình buộc lại!
Nghiệp còn nặng, lòng từ khôn lẽ chối;
tình có ngay mắt tục dễ ai tin.
Phép công hổ tiếng tiểu Tăng,
giọt nước cành dương bao rửa bụi;
Khoán cũ nặng lòng sư trưởng,
đóa mây đỉnh Thứu cũng tuôn sầu!
Rắp bạch sòng cho rõ mặt nhân gian;
song tu trót kẻo thẹn lòng Thượng giới.
Dây chân dám dày sân Tĩnh địa,
giữ chiền ra tựa mái Tam quan;
Vốn lòng từ chẳng thẹn nén chân nhang,
niệm lạy về nơi Cửu tự.

Bể khổ chìm bao được nổi;
nợ trần trả chửa hay xong.
Nhai sương mớm tuyết chịu cho ai,
ngoài chín tháng đôi tay con nhện mọn.
Dãi gió dù sương liều với kiếp,
trong ba thu một xác cái ve gầy.
Xa xôi bao quản cửa Già Lam;
tươi héo khôn nài cơ tạo hóa.
Cảnh vắng nào thầy, nào tiểu,
giọt nước đồng thánh thót thuở trăng khuya;
Đèn tàn bên mõ, bên con,
mồ hôi đá đầm đìa cơn gió thoảng.
Giấc trần mộng nằm lâu cũng mỏi;
bạn kim sanh đến thế là thôi.
Lỗi sanh nên phải bước bèo mây,
đôi gánh cù lao chồn lại nặng;
Vụng hóa chưa tròn duyên thông suối,
một thơ thê oán gởi về không.
Đã cam kiếp ấy chốn sông Ngân;
bao biết thân sau vào cửa phúc.


Hồn hồ điệp từ đây muôn kiếp,
nước non diệu vợi biết con đâu;
Nghĩa minh linh cũng gọi một ngày,
hương khói mai sau đành chán đấy.
Tình dài vắn thêm rầu khúc vượn;
Đường xa xôi nên mượn cánh hồng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/07/2021(Xem: 6199)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân
28/07/2021(Xem: 6694)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà
30/08/2020(Xem: 15914)
Viết về tập thơ “Cuối Đời Lọc Những Tinh Sương” của thi sĩ Tâm Tấn Tu nhà năm mấy tuổi đầu Lẽ huyền chưa đạt thâm sâu Bến Bờ Chừ nương cảnh chợ sống hờ Thử xem nhẫn nhục còn chờ những chi? Niết Bàn – Địa Ngục bất ly Ngoài-trong cánh cửa có gì đâu xa: Mở thương cảnh loạn Ta Bà Khép Tâm tịnh lại ấy là Chơn Không.” (Tâm Tấn, Đêm Huyền)
09/05/2020(Xem: 8817)
Khi xưa, có khoảng thời gian tôi yêu hoa tới mức vận dụng khả năng để sở hữu một tiệm hoa. Ở môi trường này, tôi thường xuyên được thấy những tấm lòng mẫn ái hướng về nhau. Một bông hồng để thay lời xin lỗi, một giỏ lan chúc tụng niềm vui, và ngay cả những vòng hoa tang chia buồn cũng là tình người đẹp đẽ.
10/12/2019(Xem: 7377)
“Thà như giọt mưa, vỡ trên tượng đá Thà như giọt mưa, khô trên tượng đá Thà như mưa gió, đến ôm tượng đá Có còn hơn không, Có còn hơn không …” Đó là những câu mở đầu bài thơ của một người làm thơ như ăn cơm, làm thơ như uống nước, làm thơ như thiền hành, làm thơ như tĩnh tọa, làm thơ như say ngủ …. Làm thơ mà như chưa từng nghĩ là mình làm thơ, huống chi, nhọc nhằn khoác vào mình những hư danh nhân thế.
10/12/2019(Xem: 6257)
Tiết mùa đông bất ngờ về sớm khiến những nhành mai đang ra lá, chưa kịp nhận biết, vội nép vào nhau, thương cảm nhìn những đóa hồng tỷ muội run rẩy, mới nở đêm qua. Dọc theo bức tường ngoài hàng hiên, những khóm trúc nhẹ nhàng lay động, trấn an bụi hoa ngâu với những đóa nhỏ li ti, rằng mặt trời đang lên, chúng ta vẫn đồng hành dù ta xanh hay vàng, dù em tươi hay héo, chỉ là ngoại hình luân chuyển mà thôi!
22/05/2019(Xem: 7073)
Phần này bàn về cách dùng thì (tiếng Anh tense ~ temps tiếng Pháp) vào thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến thế kỉ XX. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .
29/04/2019(Xem: 6733)
Những ý tưởng trong một bài viết ngót 30 năm trước bỗng hiện về trong giấc mơ đêm qua, cùng với hình ảnh người bạn từng chung bước trên chặng đường tranh đấu cho nhân quyền, khi thuyền nhân trong các trại tỵ nạn đang bị cưỡng bức trả về Việt Nam. Người bạn đó là cố nhạc sỹ Việt Dzũng. Sao giấc mơ lại tới trong thời điểm cuối tháng tư? Với tôi, không phải là tình cờ, vì chính bài viết này lại là một, trong những bài mà Việt Dzũng đã chia sẻ rằng “Xúc động lắm! Những rung cảm này thật quá! Thầm lặng mà lại rõ nét qúa! Chị cho Dzũng gom những bài viết khác của chị lại, in thành sách nhé!” .
28/03/2019(Xem: 11179)
Phạm Lam Anh là con gái duy nhất của danh thần Phạm Hữu Kính. Bà tên là Phạm Thị Khuê, tự Lam Anh, hiệu Ngâm Si, sinh vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, người làng Mông Nghệ, tổng Mông Lĩnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Quảng Nam. Huyện Diên Khánh thuộc phủ Điện Bàn có hai tổng là Uất Lũy và Mông Lĩnh, thời Chúa Nguyễn, làng Mông Nghệ nằm trong tổng Mông Lĩnh của huyện Diên Khánh (Phủ Biên Tạp lục của Lê Quý Đôn, trang 82). Năm 1823 huyện Diên Khánh đổi tên thành huyện Diên Phước.
24/02/2019(Xem: 21288)
Có một lời dạy của Đức Phật đã ngấm vào dòng chảy của tâm thức dân tộc mình… Đó là ý thức về vô thường, về khổ. Bởi vậy, thơ Việt Nam kể chuyện buồn nhiều hơn vui, lo lắng nhiều hơn an bình, gập ghềnh nhiều hơn bằng phẳng… Ngay từ trang đầu Truyện Kiều, nhà thơ Nguyễn Du (1766–1820) đã viết: …Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng