11_Tuệ Sỹ Thiền Sư (Thành kính đảnh lễ niệm ân Đức Trưởng Lão HT. thượng Tuệ hạ Sỹ bậc Thầy thông tuệ của nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử.)

22/09/202307:44(Xem: 14933)
11_Tuệ Sỹ Thiền Sư (Thành kính đảnh lễ niệm ân Đức Trưởng Lão HT. thượng Tuệ hạ Sỹ bậc Thầy thông tuệ của nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử.)


On Tue Sy-4

Tuệ Sỹ Thiền Sư

Thành kính đảnh lễ niệm ân Đức Trưởng Lão HT. thượng Tuệ hạ Sỹ bậc Thầy thông tuệ của nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử. Ngài đã dành trọn cuộc đời của mình cho lý tưởng giải thoát giác ngộ và đã cống hiến rất nhiều cho sự nghiệp giáo dục đào tạo tăng tài cũng như giáo dưỡng đào tạo tầng lớp trí thức cho Phật Giáo nước nhà. Đặc biệt Ngài đã cho ra đời những tác phẩm, dịch phẩm trác tuyệt góp phần làm giàu cho kho tàng văn hoá Phật giáo. Kính nguyện Phật thường gia hộ cho HT pháp thể thường an đạo thọ miên trường…!




Tuệ Sỹ Thiền Sư mắt tuệ ngời 
Am tường Phật điển độ trần vơi 
Thân gầy trí sáng gìn chơn cội
Tuổi hạc tâm trong thuyết diệu lời 
Viết sách làm thơ thần sảng khoái 
Dịch kinh trì luật ý vui tươi 
Tăng Ni Phật Tử xa gần tới 
Ngưỡng mộ nương về khổ lụy rơi 


Nam Mô Thường An Lạc Bồ Tát
Tu Viện An Lạc, California, 8:30 am, 19-09-2023 
Hậu Học-Thích Chúc Hiền ( khể thủ kính đề)

on tue sy-16


Tuệ Sỹ Thiền Sư
Kính hoạ bài Tuệ Sỹ Thiền Sư của TT. Thích Chúc Hiền

Thiền Sư Tuệ Sỹ huệ tâm ngời
Đạo hạnh khai truyền mãi chẳng vơi
Dẫn chúng hằng nương về bổn cội
Bày kinh vẫn gợi đến đương thời
Đường từ lấy đức người hoan hỷ
Giáo điển gieo mầm pháp rạng tươi
Khắp chốn gần xa nhờ kệ gởi
Yên bình cõi thế… khổ trần rơi…


Sài Gòn, 22/9/2023

PT. Minh Đạo












Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30064)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25182)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9741)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5848)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4075)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4852)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4256)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4052)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15197)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5335)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.