Bài 3 – Hàng ma Lesson (3. Evil Spirits)

23/07/202112:25(Xem: 9025)
Bài 3 – Hàng ma Lesson (3. Evil Spirits)

phat giao cua nhi dong


Bài 3
– Hàng ma

Lesson 3 – Evil Spirits

Lecon 3Les Esprits malins

           

 

            Tất Đạt đa ngồi thiền quán ở gốc cây Tất-bát-la và Ngài thề rằng: “Nếu không thành Phật thì ta không bao giờ rời khỏi chổ nầy.”

            Trong lúc các cõi trời đều vui mừng, ca ngợi, chúc phúc, trông mong Thái tử mau thành công thì ngượci lại, ma vương đang hốt hoảng, vì chúng lo sợ mọi người đều tin Phật làm lành lánh dữ thì còn ai theo tà thuyết của chúng nữa.!

            Vị vậy, chúng kéo nhau đến trước mặt Tất Đạt Đa lớn tiếng mắng nhiếc, đòi Thái tử phải lập tức rời khỏi chổ ngồi. Chưa đủ, chúng còn cho ma nữ tới ca múa, tỏ vẻ lả lơi mời mọc. Nhưng tất cả chỉ như gió thổi núi đá, Tất Đạ Đa vẫn an nhiên tĩnh tọa.

 

            Siddhartha sat down to meditate beneath a Pippal (bayan) tree  and made the following vow: “I shall not leave this place until I have attained full enlightenment and become a Buddha.”

            All heaven and earth rejoiced to hear this pledge, praising Siddhartha and wishing him success. But there was one person who did not rejoice. Mara, the king of evil forces, was outraged. If everyone followed Buddha, did good deeds and avoided harming others, who would be left to follow his heretical beliefs?

            So he called up his hordes of evil sprits and together they rushed towards Siddhartha, hurling bloodcurdling insults at the top of their voices and ordering him to rise and leave at once. When that failed, demons appeared as beautiful women and danced around the Prince, beckoning and luring him. But all the evil sprits frantic efforts were like a wind blowing against a mountain of stone. Nothing could disturb Siddhartha’s peaceful meditation.

 

            Siddharta s’étai assis sous un arbre Pippala (banian) pour méditer et forma le voeu suivant: “Je ne quitterai pas ce lieu tant que je n’aurais pas attaint la pleine illumination et ne serais pas devenu un Bouddha.”

            Tous les êtres des cieux et de la terre se réjouirent d’entendre cette promesse, couvrient d’éloge Siddharta et lui souhaitèrent succès et réussite. Seule une personne ne se réjouissait pas. Mara, le Roi des Forces du Mal, était outré, car si tous suivaient le Bouddha, faisant le bien et évitant de nuire à autrui, qui resterait pour suivre ses croyances maléfiques?

            Aussi, il convoqua ses hordes infernales d’esprits malins et, tous ensemble, ils se précipitèrent vers Siddharta, hurlant à tue-tête des insultes à glacer le sang et lui ordonmant de se lever et de quitter la place. Voyant qu’ils échouaient, les demons prient l’apparence de superbes femmes et se mirent à danser autour du Prince, l’aguichant. Mais la frérésie des esprits malins était comme le vent s’epuisant contre une montagne de roc. Rien ne pouvait perturber la meditation paisible de Siddharta.

 

hang ma


**0**

(Đánh máy - Diệu Vân)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/10/2010(Xem: 5972)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.
16/10/2010(Xem: 6011)
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em
16/10/2010(Xem: 5090)
Ngày xưa, vào hồi Tây Sơn khởi nghĩa, có một chàng trai người vùng Đồng Nai, có tài cả văn lẫn võ, đã vung gươm hưởng ứng sự bất bình của thiên hạ.
16/10/2010(Xem: 4868)
Ngày xửa... Ngày xưa... Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm...
15/10/2010(Xem: 4801)
Một danh tướng về già muốn tặng thanh kiếm báu của mình cho một tướng quân ở xa. Ông giao trọng trách đó cho một gia nhân, cũng là một tay kiếm xuất chúng. Cẩn thận như vậy, ông vẫn không yên lòng, nghĩ rằng kiếm sĩ này chưa chắc đã đủ chín chắn để giữ kiếm không bị cướp dọc đường. Thanh kiếm không những quý về chất thép mà còn quý vì chuôi kiếm có nạm vàng và ngọc vua ban.
13/10/2010(Xem: 5060)
Có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn...
13/10/2010(Xem: 6948)
Vào Thứ Sáu, ngày 8 tháng 10 năm 2010, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình Na Uy đã công bố giải Nobel Hòa Bình năm 2010 được trao cho Lưu Hiểu Ba. Lưu Hiểu Ba, sinh năm 1955 tại thủ phủ Trường Xuân của tỉnh Cát Lâm ở đông bắc Trung Quốc, là nhà tranh đấu bất bạo động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Trung Quốc. Ông đã từng tham gia phong trào sinh viên đấu tranh trong biến cố Thiên An Môn năm 1989 và sau đó liên tục bị sách nhiễu, quản chế tại gia và tù tội. Ngày 8 tháng 12 năm 2008, ông đã bị bắt vì cùng một số nhà tranh đấu dân chủ và nhân quyền Trung Quốc công bố Hiến Chương 2008 đòi xóa bỏ chế độ cai trị độc đảng để tiến tới một xã hội dân chủ cho Trung Quốc. Hiến Chương 2008 cho đến nay đã có hơn 8,500 người tham gia ký tên. Vì Hiến Chương 2008, Lưu Hiểu Ba đã bị chính quyền cộng sản Trung Quốc kết án 11 năm tù. Hiện ông vẫn còn ngồi tù ở Liễu Ninh, Trung Quốc.
11/10/2010(Xem: 5317)
Không ngờ tôi lại có được duyên lành đi chung với Thầy Trụ Trì Chùa Tâm Giác một đoạn đường khá xa. Tôi vẫn thường hay đến chùa, vãn hay gặp Thầy nhưng lúc nào Thầy cũng „Phật sự đa đoan“ nên tôi có rất ít thì giờ gần gũi và tiếp xúc với Thầy nhiều. Chuyến đi này thật hữu ích cho tôi vô cùng, tôi đã nghe và thấm nhuần được rất nhiều điều về Giáo lý Phật Đà - một niềm tin mà tôi luôn luôn tôn thờ và say mê khi vừa mới lớn cho đến tận bây giờ và cũng nhờ Thầy mà đoạn đường đi về 260 km không còn xa vời vợi nữa.
07/10/2010(Xem: 5511)
Hiện nay, truyền thuyết Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài được lưu truyền dưới nhiều hình thức nghệ thuật khác như kể chuyện, ca dao, truyền kỳ, kịch, khúc nghệ, âm nhạc, v.v