Tháng Mười Nhớ Mạ

06/01/201921:11(Xem: 4777)
Tháng Mười Nhớ Mạ
me-con-02
THÁNG MƯỜI NHỚ MẠ
(Bùi Công Nguyên, cuối tháng 10 âm lịch năm 2018)

Mỗi năm vào khoảng cuối tháng 10 âm lịch, con thường hay buồn. Vì sao mạ có biết không? Đặc biệt là năm nay con buồn hơn mọi năm khác vì con về nước mà không về làng Đơn Duệ tận ngoài miền Trung khô cằn của mình để được đến thắp nén hương trên mộ mạ.

Con biết rất rõ ngôi mộ của mẹ chỉ là một nấm mồ do một đứa cháu đắp lên để làm nơi cho con cháu về thăm chứ thực sự làm gì còn xương cốt của mạ dưới đó bởi ở vùng giới tuyến Vĩnh Linh nơi làng mình đã bị bom B52 đào xới thành từng hố sâu từ hồi năm 1968.

Tháng 10 âm lịch đối với con là ngày mạ lìa đời, bỏ lại một đứa bé 11 tuổi, tứ cố vô thân vì sau khi mạ mất hai người chị của con cũng mỗi người đi ở đợ một ngã. Còn nhớ như in, trước lúc trút hơi thở cuối cùng, mạ đã trăn trối rằng mạ rất lo rồi sẽ không có ai giúp nuôi con ăn học nên người.

Và đúng như mạ nghĩ, chẳng bao lâu sau, con đã trở thành một đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ và đi chăn bò thuê để kiếm cơm sống qua ngày. Rồi sau khi bị Tây bắt bỏ tù ở nhà lao Hồ Xá vì họ nghi con làm liên lạc cho Việt Minh, con đã đi làm việc vặt tại nhà của một bà vợ lính Tây, rồi xin đi làm bồi trong những câu lạc bộ Pháp, và sau cùng trôi dạt vào sống trong một trại mồ côi dành cho con lính ở Huế. Và cũng chính từ ngôi trường mồ côi này, nhớ lại sự lo lắng của mạ, con đã cố gắng không ngừng học tập, chịu khó, chịu khổ, từng bước và từng bước, khoảng trên 10 năm sau con cũng có được học hàm học vị đại học và có một chỗ đứng không đến nổi quá tầm thường trong xã hội tại miền Nam, và con cũng đã rất vui về nổ lực phi thường của con. Con vui vì, ngoài mục tiêu làm việc để sống, con cũng đã làm được một số công việc giúp cho giới trẻ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên.

Ngày mạ còn sống con có một khoảng thời gian ngắn của tuổi thơ bên mạ. Kỷ niêm thân thương nhất của con với mạ là trong những đêm hè trời nóng, mạ ngồi nhai trầu còn tay thì cầm chiếc quạt mo cau giỗ giành cho con có giấc ngủ được yên bình. Lúc ấy còn quá nhỏ để con có thể được phép hỏi về quá khứ của mạ. Chỉ biết quê mạ ở Ba Đồn, lấy ba quê ở Vĩnh Linh làm vợ thứ hai sau khi người vợ đầu của ba đã mất. Nhiều câu hỏi về gia đình, quê quán của mạ cho đến tận bây giờ con chưa có câu trả lời. Nhưng qua con mắt tuổi thơ của con ngày ấy và ngay cả bây giờ nhớ lại, mạ không phải là một người có quá khứ êm đềm và hạnh phúc như những người phụ nữ khác ở quê mình.

Cũng trong những đêm hè ấy, giữa hai giấc ngủ, con được nghe tiếng hát văng vẵng trầm buồn của những người lái buôn từ trên những con đò dọc chạy xuôi ngược trên sông Châu Thị chảy ra sông Hiền Lương. Ngày nay không còn nữa bóng dáng của những con đò dọc và sông Châu Thị cũng đã có một cây cầu nên cả những chuyến đò ngang cũng vắng bóng luôn.

Cạnh bên làng Châu Thị có một cái đình và một ngôi chùa của làng Đơn Duệ được bao quanh bởi một khu rừng thưa cũng biến mất. Ngôi đình làng điển hình rất rõ nét cho một xã hội nhỏ cá lớn nuốt cá bé, chính vì tệ nạn đó mà mạ đã cố gắng cho con đi học để sau này con không bị hành hạ, bắt nạt. Nhưng ngôi chùa thì con rất thích vì tiếng chuông mõ trong những mùa Vu Lan đã làm cho con cảm thấy gần mạ hơn, yêu thương mạ sâu lắng hơn. Cả quá khứ vui ít buồn nhiều ấy bây giờ thật sự đã tan biến mất. Mạ hãy nghĩ còn sợi dây nào nữa để níu kéo, vẫy gọi, một ông già bây giờ đã trên 80 tuổi, trở về lại với quê xưa?

Chưa hết, không như những vùng đất khác ở miền Trung, nơi con sinh ra không có ai giàu sang phú quý, chỉ có đất cày trên sỏi đá và gió Lào thổi tróc mái nhà vào mùa hè và gió bấc lạnh buốt trong những đêm đông không có tấm chiếu đủ lành lẹ để đắp. Nơi con sinh ra cũng là nơi mà mọi người phải làm lụng vất vả từ sáng sớm đến chiều tối quanh năm mới có đủ hạt gạo và củ khoai củ sắn để sống qua ngày. Bụng đói khoác chiếc áo tơi cời đi chăn bò vào mùa đông bây giờ nhớ lại con vẫn còn cảm thấy cái lạnh buốt xương. Con thấm thía vô cùng vị trí vào đời quá mỏng của con. Và có lẽ cũng chính nơi quê hương nghèo khó này đã hun đúc con thành con người miệt mài tìm con đường sống cho bản thân và những người cùng chung số phận như con.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25359)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9966)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6112)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4194)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4907)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4567)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4135)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15397)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5399)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 16267)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.