10. Đánh Cờ Tướng

10/12/201821:09(Xem: 4058)
10. Đánh Cờ Tướng

danhcotuong10_vhưu

“Sự Đời thỉnh mời Pháp Đạo”

 

Câu chuyện thứ mười:

ĐÁNH CỜ TƯỚNG

 

          Anh chàng ký giả của báo ngành du lịch đi tác nghiệp săn tin ảnh, sau gần hết buổi sáng tìm hỏi đường, đã vào đến ngôi chùa cổ có sắc tứ vua ban nằm ỏ vùng ngoại ô im ắng. Anh ta lẳng lặng đi qua lối bên hông ngôi chánh điện cửa đóng then cài, vào sâu bên trong chùa, và bước lên thềm của gian phòng khách, bắt gặp có ba người đang ngồi bên bàn Cờ Tướng.

         Hai người chơi cờ đều đã tóc hoa râm, cùng ngồi bệt dưới nền gạch hoa, chú mục xuống bàn cờ. Người thứ ba ngồi trên chiếc đẩu thấp kê  ngay khoảng giữa hai kỳ thủ chừng như  đang làm một trọng tài, và đó là một vị Sư già có dáng vóc nhỏ thó. Khách xuất hiện đột ngột, hai kỳ thủ vẫn không thấy biết, không màng đến, chỉ vị sư là quét đôi mắt sáng quắc nhìn, rồi gật nhẹ đầu, từ tốn đứng dậy, rời khỏi chiếc đẩu, tiến  nhanh về phía bàn nước, ra hiệu mời khách an tọa. Sau khi đôi bên thăm hỏi xả giao, giới thiệu, anh ký giả mới biết mình đang được sư trú trì tiếp đón, nên cũng thưa cho Sư biết mục đích của mình là viết bài giới thiệu về cổ tự, và đường đột hỏi:

         “Thưa thầy, chốn thiền tự thanh tịnh là để tu hành, sao lại không lo tụng kinh niệm Phật mà lại đánh Cờ Tướng ạ?”

          “Đánh Cờ Tướng là xấu sai hay sao?” Sư tủm tỉm hỏi lại.

          “Theo tôi nghĩ là vậy, đối với chốn tu hành. Chơi Cờ Tướng là đã tham gia cuộc đấu chiến, tranh giành hơn thua, đấu đá thắng bại, dùng mưu này kế kia, chiêu kia nước nọ khiến cho tâm mình luôn manh động, trí não mình luôn biến hóa giảo hoạt… Chỉ nên dể người đời chơi ở bên ngoài chốn thiền môn thôi ạ!”

          “Hay thay, hay thay!”  Sư gật gù, cười khen, rồi từ tốn nói “Nếu nhìn qua bằng mắt thịt thì thấy cảnh khi nãy có hai người đánh cờ, và thêm một ông ngồi chầu rìa dự khán, không chối cãi vào đâu được, rõ là đánh Cờ Tướng!”

           “Dạ, rõ ràng vậy mà, và hai người kia vẫn còn đang mê đắm vào cuộc cờ đó thầy ơi!”

           “Đúng. Nhưng hai đệ tử tục gia của tôi đó, không phải chơi đánh Cờ Tướng, mà là đang Luyện Tâm!”

           “Luyện Tâm?” Anh ký giả trố mắt lên “Là… sao ạ?”

           “Những quân cờ trên bàn đều mang một ý nghĩa, trọng trách riêng biệt, khác xa với cờ ở ngoài đời. Tướng, là bản tâm, là Phật Tánh của chính mình. Sáu quân còn lại là tượng trưng cho Lục Độ Ba La Mật. Tốt, là Bố Thí. Mã Nhẫn Nhục. Pháo Trì Giới. Xe Tinh Tấn. Tượng Thiền Định. Sĩ Trí Huệ. Anh muốn chơi ván cờ đó thì phải học pháp nhà Phật, rồi mới thúc liễm thân tâm mà ngồi xuống điều xe khiển tốt phóng pháo đẩy mã!”

          Anh ký giả xanh mét mặt mày, vội xá:

         “Tôi thật hồ đồ, thật mê muội, mong thầy độ lượng tha  thứ!”

          “Không biết thì không có lỗi. Chỉ cần anh hiểu cho là người đang tu học chơi Cờ Tướng để luyện tâm chứ không vì tranh hơn thua. Ván này mình thua, thua vì yếu kém điểm nào, mặt nào, thì ván sau mình tu sửa cho tốt đẹp hoàn hảo hơn. Cứ sau mỗi tuần, những quân cờ lại đổi ý nghĩa, uyển chuyển tùy duyên chứ không khô cứng. Tuần sau, không là Lục Độ nữa, mà là Lục Niệm, Tốt niệm Thí. Mã niệm Giới. Pháo niệm Thiên. Xe niệm Tăng. Tượng niệm Pháp. Sĩ niệm Phật. cứ vậy mà chơi, cứ vậy mà đánh, cứ vậy mà luyện!”

          Anh ký giả há hốc mồm, đứng bật khỏi ghế, chắp tay kính cẩn, đổi cách xưng hô với niềm tôn kính:

          “Bạch thầy, xin thầy thâu nạp con làm đệ tử tục gia ạ!”

 

Tâm Không – Vĩnh Hữu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30464)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25334)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9924)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6108)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4188)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4905)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4562)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4114)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15388)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5394)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.