02. Còn và hết duyên

16/11/201816:28(Xem: 4209)
02. Còn và hết duyên

con duyen
"SỰ ĐỜI THỈNH MỜI PHÁP ĐẠO"

 

Câu chuyện thứ hai:

 

CÒN VÀ HẾT DUYÊN

 

             Một thiện nam hỏi vị Y chỉ sư:

           “Bạch Thầy, có phải mọi thứ có duyên với mình thì chúng tự đến, và khi hết duyên thì dù mình có cố gắng níu kéo, khư khư gìn giữ, chúng vẫn bỏ đi, hoặc thuộc về người khác, phải không ạ?”

            “Rõ là vậy rồi! Sao lại hỏi ?”

            “Nhà con có chiếc xe máy Wave Alpha đã chạy được năm năm, có đến hai lần vợ của con quên không khóa cổ, vẫn còn cắm cả chìa vào khóa, đậu trên thềm hiên trước nhà, rồi đóng cửa ngủ từ trưa đến chiều, vậy mà xe vẫn còn nằm đó, mặc dù xóm nhà con ở là xóm dân cư đông đúc, hỗn tạp xô bồ…”

           “Còn duyên rồi. Nếu hết duyên, dù mình có khóa cẩn thận, xích thêm bánh, nó vẫn mất tăm à!”

            “Nhưng con chưa tin tuyệt đối ạ.”

            “Hai lần vợ của con để xe ngoài thềm hiên mà quên khóa cổ rút chìa, không mất, đó là hai lần lơ đễnh, sơ ý, phải vậy không?

            “Dạ đúng, đó là do quên, sơ ý.”

           “Vậy con hãy thử lần thứ ba bằng cách cố ý xem sao?!”

           Thiện nam trố mắt, liền bái lễ cáo lui. Ba ngày sau lại xin yết kiến Y chỉ sư, khoe:

           “Bạch thầy, liên tiếp ba buổi trưa vừa rồi, con cố ý để xe ngoài thềm hiên, không rút chìa khóa, chiều dậy thấy xe vẫn còn nằm đó. Con tin tuyệt đối rồi ạ!”

            Thầy cười khanh khách, nói:

           “Thôi nghen, sự bất qua tam, có cố ý, có thử thì thử ba lần đủ rồi, đừng thử thêm lần thứ tư, lỡ nó đến hồi hết duyên biến mất, rồi chạy đến đây mắng vốn tui, đổ thừa tui xúi dại, tui không có tiền mà đền đâu à nghen!”

             Thầy trò cùng cười vui sảng khoái.

                 Cư sĩ Vĩnh Hữu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30064)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25182)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9741)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5848)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4075)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4852)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4256)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4052)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15197)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5335)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.