Ai quậy hơn ai?

10/04/201313:21(Xem: 8413)
Ai quậy hơn ai?

giadinhphattu_1

AI “QUẬY” HƠN AI!

Dương Kinh Thành

---o0o---

Truyện ngắn thời sinh hoạt áo lam

Đúng vậy, vấn đề là nên “quậy” như thế nào cho phải đạo! “Quậy” mà trên không khiển trách, dưới chẳng dám xem thường khi tính khí “quậy” vốn là máu nóng của tuổi trẻ, nhưng ở đây là Phật tử ? (cứ “quậy”)!

Chuyện xãy ra hồi một ngàn chín trăm... lâu lắm! Khi người viết bài này hãy còn là một cậu bé oanh vũ coi biệt trong một nhóm đoàn sinh oanh vũ cũng cá biệt – nói theo bây giờ – Do đó một anh huynh trưởng (hỏng dám cũng cá biệt đâu) được đặt cách theo dõi – quan tâm – giúp đỡ chúng tôi. Thật thế, anh có thân hình hộ pháp (cở đàn em Lý Đức bây giờ) cũng đủ hốt hồn “bọn trẻ” nói chi đến ra tay thì phải biết. Ác một nỗi lần ra mắt “làm quen” nhau anh lại trắc nghiệm giáo lý mà thầy giáo Hạnh đã dạy cho bọn tôi thời gian qua. Đó là lịch sử Phật Thích Ca. Như chưa biết rõ chỉ số thông minh bọn tôi đều phải dựa vào những cú “tác động” (nạt nộ – la lối – dọa quỳ hương ... chẳng hạn) nên anh ta mào đầu sau tiếng tằng hắng đầy uy... huynh trưởng:

- E hèm! Các tụi bây – ủa quên – các em cho anh biết Đức Phật sinh ra ở Vườn gì?

Cả bọn nháo nhác nhìn nhau, đứa gải đầu đứa bức tóc nhăn nhó một cách khổ sở không kém trạng thái chúng tôi khi bán ế. Chả là “nghề nghiệp” bọn tôi: đứa bán vé số, đứa bưng mâm bánh cam, đứa phụ má bán sari ở phà Cát Lái, đứa bán “bánh mì nóng dòn” ... vv... Nói chung nghề chúng tôi chẳng kém kẻ bụi đời rão bước khắp nơi, có mặt “phục vụ” khắp chốn (tiếp thị bây giờ còn thua xa)

Sau nhiều lần lập lại câu hỏi mà câu hỏi kế tiếp luôn được nâng “ton”, như thể anh ta kéo hồn vía Lý Đức nhập vào mình cho đủ đô. Anh đâu biết như thế bọn chúng tôi như thế bọn chúng tôi càng thêm sợ! Càng sợ thì bộ nhớ càng lưu vong mất tiêu!

Anh ta nạt lớn!

- Học rồi mà cũng không nhớ – Rồi chỉ mặt từng đứa anh tiếp – Tao – Ủa anh nhắc lần này ráng nhớ nhe – nhe không!

Chúng tôi xanh mặt riu ríu “Dạ” không nên tiếng – Anh ta hằn học tiếp:

- Đức Phật sanh ra trong VƯỜN TAO ĐÀN; Lớn lên trong THÀNH TUY HẠ; Xuất gia bên SÔNG ĐỒNG NAI; Thành đạo bên SÔNG SÀI GÒN; Nhập Niết bàn trên NÚI CHAÂU THỚI.

Anh ta nói một lèo rồi thở. Bọn tôi thêm “nể” anh ta đến nổi cùng nhau khóc òa, trong khi một góc sân chùa các anh chị huynh trưởng khác có cả bác gia trưởng đều cười nức nẻ!. Theo cách hiểu non nớt của tôi lúc này, có lẽ anh ta “quê” nên nắm tay tôi kéo sang chổ các anh chị huynh trưởng và hỏi:

- Anh “dạy” vậy có đúng không ?

Tôi không cần ái ngại đáp:

- Dạ đúng ạ, bọn em nguyện lần sau sẽ nhớ mãi.

Anh ta nói với các anh chị ấy đầy vẽ tự hào:

- Thằng này – ủa em này thông minh nhất trong nhóm cá biệt – Rồi anh hỏi tôi:

- “Vợ” của Đức Phật tên gì em?

Tôi ngẩng lên

- Anh sai rồi! Đức Phật nào có vợ?

- Đức Phật Thích Ca! Vợ Ngài là Da – Du – Đà – La! Anh bổ sung.

Tôi thật thà:

- Càng sai! Da – Du – Đà – La là vợ của Thái tử Tất – Đạt – Đa!

Anh ta quỳ một chân xuống trước tôi nói nhanh:

- Sư phụ!

Rồi tất cả cùng cười lên thỏa mãn. Anh công kênh tôi lên vai chạy mấy vòng sân chùa vào một buổi chiều chủ nhật se lạnh mùa thành đạo đáng nhớ ấy.


---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25283)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9872)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6091)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4151)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4899)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4529)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4086)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15326)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5370)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 16021)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.