Hương Bát Nhã

10/04/201312:59(Xem: 5741)
Hương Bát Nhã

 hoa_sen (8)

Hương Bát Nhã

Thu Nguyệt

Trắng và trắng. Muột thơm và tinh khiết. Mặt đất dường như đỏ và mịn hơn khi được trải mình ra đón nhận sự nương tựa dịu dàng của những cánh hoa sứ ấy. Tôi khẻ khàng nhặt một bông sứ nhỏ, không đưa lên mũi ngửi như thói thường mà trang trọng áp vào tai. Trong làn hương tràn ngập, tôi nghe vẳng tiếng chuông ngân đẫm mát. Ai đó ơi, hãy một lần thử xem, nhặt một bông sứ nhỏ sân chùa, nhè nhẹ áp vào tai, sẽ nghe thấy những âm thanh và làn hương kỳ diệu! Cái cảm giác lạ lùng mà tôi đoan chắc rằng ai đó sẽ bất ngờ thấy mình khác hẳn đi .

Ngôi chùa ẩn trong ngút ngàn hoa sứ trắng. Chùa Sứ - cái tên đã giải thích rõ ràng, vậy mà tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng và bần thần trước một vùng trắng thơm bạt nắng ...

Chú điệu nhỏ dẫn tôi vào phòng khách, chõm tóc gọn gàng vắt qua vành tai đen đến nao lòng. Chú thoắt ra, thoắt vào với mâm cơm chay nhỏ gọn trên trên tay, lời mời cũng như vậy:

- Dạ, cô dùng cơm.

Tôi ngập ngừng hỏi:

- Này, chú ơi! bông sứ có ăn được không? - tôi xòe cho chú thấy một nắm bông sứ mà tôi vừa cẩn thận nhặt lên ngoài sân.

Chú không nhìn tôi, nụ cười hiền bẩm sinh. Tôi sợ chú tưởng mình hỏi đùa, liền nói thêm:

- Thiệt mà! Người ta vẫn ăn được bông điên điển, bông so đũa, bông huệ đó thôi?

Chú quay lại nhìn tôi, bất ngờ hỏi:

- Cô có thích hoa sứ không ?

Tôi nhiệt tình:

- Ồ, thích lắm! Nhất là hoa sứ ở đây. Có hương, có sắc mà còn có cả thanh nữa đó, chú có thấy vậy không ?

Ánh nhìn thân thiện đồng cảm làm tôi nghe người thật nhẹ. Tôi cười, chú cũng cười, một cánh hoa sứ nhẹ nhàng rơi ngoài cửa sổ, cũng ngoái vào gởi một nụ cười thơm ngát trong veo.

Dãy nhà khách nằm ngoài khuôn viên chùa, cách một bức tường cao, nhưng làn hương của những bông sứ thì không có gì ngăn cách. Gió hào phóng ban cho cả một vùng ngát dịu hương thơm. Một đêm thức trắng. Tôi nằm lắng nghe cách những bông sứ rụng, tôi vẫn nghĩ rằng mỗi bông hoa có một cách rơi rụng khác nhau. Trong tiếng chuông mõ công phu, tôi vẫn nghe rải rác đó đây những âm thanh rời cành thanh thản. Chợt nhớ và đồng cảm vô cùng bốn câu thơ trong bài "Thính vũ" (nghe mưa) của Nguyễn Trãi :

" Cách trúc xao song mật

Hòa chung nhập mộng thanh

Ngâm dư hồn bất mỵ

Đoạn tục đáo thiên minh " ...

(Qua bụi trúc tiếng mưa rơi khua vào cửa sổ đóng kín

Hòa với tiếng chuông đi vào giấc mơ nhẹ nhàng

Đã ngâm thơ rồi vẫn không ngủ được

Nghe đứt nối cho đến khi trời sáng )

Thật diệu kỳ! Mới hay rằng sự đồng điệu của tâm hồn con người vượt qua tất cả, qua không gian, thời đại, con người và mọi qui luật của thế gian.

Tôi nằm mong đến sáng để được ra ngắm cảnh bình minh với những cánh hoa sứ rơi đầy trên mặt đất, hít thở không khí ban mai với mùi hoa sứ hòa cùng mùi khói hương phảng phất của cảnh chùa. Tôi mơ màng nằm lo, sợ phải bất ngờ nghe một tiếng chổi quét sân của một chú tiểu nào đó. Đừng! Xin đừng quét đi những cánh hoa, dẫu hoa khi rời cành thì đã là phận rác !

Ba cây kim đồng hồ chia vòng tròn thời gian ra làm hai nửa: sáu giờ đúng. Tôi choàng dậy, đi ra ngoài. Ơ kìa! Tôi không còn tin ở mắt mình. Mặt đất sạch trơn không còn bóng dáng một cánh hoa sứ nào cả. Tôi đã nghĩ rằng thêm một đêm, mặt đất sẽ trắng đầy những hoa sứ rụng, chiều hôm qua tôi đã thấy rất nhiều hoa sứ rụng rồi mà. Không nghe tiếng chổi khua, chẳng ai quét cả, thế thì sao hoa lại biến đi đâu? Tôi đứng tần ngần ngước nhìn những chùm hoa còn lại trên cành, rồi ngồi phịch xuống đất, những câu hỏi cứ bay lả tả trong đầu...

- Sao cô lại ngồi ở đây ?

Tôi giật mình quay lại, chõm tóc đen vắt qua vành tai cũng mang hình dấu hỏi. Tôi nói như mộng du :

- Những cái bông sứ rụng .... đâu mất hết cả rồi ?!

Vẫn nụ cười hiền bẩm sinh:

- Con lượm hết rồi!

Tôi đứng bật dậy, mừng rỡ, ngạc nhiên :

- Ơ ! Chú lượm ư ? Thật là tuyệt !

Tôi thầm nghĩ: chắc là chú cũng thương những cánh hoa ấy, sợ bị người ta quét đi thì tội. Ôi ở đâu rơi xuống cho tôi gặp được một tâm hồn tri kỷ tuyệt vời đến như vậy!

- Chú ơi, rồi chú để những xác hoa ấy ở đâu ?

- Trên chánh điện.

- Chánh điện ? - tôi bật hỏi - để làm gì ?

- Cho nó nghe kinh

- Trời?

Tôi lại ngồi phịch xuống đất. Một cảm giác khó tả tràn khắp người tôi. Chú điệu nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh, tay vu vơ vẽ những vòng tròn trên mặt đất, rồi chú thầm thì:

- Cô biết không, con cho những cánh hoa ấy nghe Pháp một ngày, rồi sau đó con đem đi phơi nắng, phơi cho đến khô rang, con gói vào bao và cất đi. Cô có muốn đi xem chỗ con phơi những cánh hoa ấy không ?

- Ồ, muốn lắm !

- Nào thì đi .

Chú dắt tôi len lõi qua mấy lùm cây rậm rạp. Một lối mòn nhỏ làm bằng dấu chân của chú và chắc cũng chỉ có bước chân chú hằng ngày đi qua đây. Một vùng đất trống với vài tảng đá, trên ấy đầy ắp những bông hoa sứ đang phơi. Tôi đứng tần ngần nghe những tiếng chim hót hồn nhiên quanh mình. AÂm thanh trong veo hòa vào làn hương hoa ẩn hiện... Thấp thoáng đây đó bên các lùm cây là những cành hoa dại, cũng đang he hé mắt buồn nhìn những xác hoa khô...

Tôi đứng yên và chú cũng đứng yên. Chú không nói và tôi cũng không nói. Hình như sự im lặng đã nói lên tất cả, nói nhiều hơn và đúng nghĩa hơn bất cứ ngôn từ nào. Chắc chúng tôi đã đứng đó rất lâu, lâu đến nỗi khi bước chân đi trở lại chùa, tôi có cảm giác như mình đang đi trên hai bàn chân khác lạ.

Chú dẫn tôi vào chánh điện, lẳng lặng mở cho tôi xem cái "kho tàng" hoa sứ khô của chú cất dưới bệ thờ. Đến lúc này thì tôi không im được nữa:

- Rồi chú định sẽ làm gì với những "bảo vật" kia?

Đôi mắt trong veo nhưng thật xa xôi, lạ lùng :

- Sau này lớn lên, con sẽ tìm cách làm nhang bằng những bột hoa sứ khô ấy để dâng hương cúng Phật.

- Liệu có được không? - Tôi băn khoăn - hoa sứ khi còn tươi thì có hương thơm đấy, nhưng để khô lâu ngày rồi thì đâu có còn hương?!

Chú lặng lẽ nhìn tôi thật lâu, rồi thong thả vuốt lại dấu hỏi đen nhánh trên đầu, bất chợt quay đi. Tiếng chú còn vương lại, nghe rõ và ngân như một hồi chuông nhỏ:

- "Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc"...

Tôi bần thần đứng chôn chân nơi bệ Phật. Câu kinh Bát Nhã đã ngàn lần âm vọng trong tôi, nhưng chưa bao giờ thấm sâu và sáng lòa đến như vậy.

--- o0o ---


Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6534)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13412)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5066)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6281)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6433)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14247)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5913)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19246)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4877)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17448)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.