Tách Trà Còn Nóng.

10/04/201312:37(Xem: 5465)
Tách Trà Còn Nóng.


Chen_Tra_Tao_Khe_13
Tách Trà Còn Nóng

Thích Tín Nghĩa
---o0o---

Hôm nay Chủ nhật, ngày 14 tháng 10 năm 1990 tức là ngày 26 tháng tám năm Canh ngọ; tôi trang hoàng một bàn thờ đơn giản trước chánh điện để làm lễ tưởng niệm Hòa thượng Thích Thiện Minh lần thứ 12; trước ngày 17-10 là ngày mà Ngài đẽ đem cái thân xác vô thường để đổi lấy cái Tự do, Công bằng, An lạc cho Dân tộc và Đạo pháp trong ngục tù Cộng sản Việt nam.

Ngày giỗ của Ngài năm nào tôi cũng nhớ và cũng chưng dọn bàn thờ để được đảnh lễ trước di ảnh của Ngài. Có năm thì làm đông đảo có Phật tử, tín đồ đến tham dự, có năm thì tôi làm khiêm tốn nhưng không kém phần trang nghiêm. Tuy thế, chưa năm nào bỏ quên. Những lúc đi chứng minh, chủ tọa Đại hội cho tổ chức Gia đình Phật tử, tôi đều khuyến khích anh chị em trong tổ chức nên thiết lễ tưởng niệm ngài Thiện Minh và hiệp kỵ cho hầu hết anh chị em Huynh trưởng và đoàn sinh trong Gia đình Phật tử quá cố.

Mỗi một lần làm lễ tưởng niệm như thế, một vị Huynh trưởng đại diện thường đọc điếu văn cả. Năm nay quá bề bộn công tác Phật sự, nên không điếu văn, cũng không quy tụ các Gia đình Phật tử địa phương cùng đến tham dự được.

Sau khi đảnh lễ Ngài chín lạy xong, tôi quỳ xuống trước di ảnh và cung kính pha tách trà để cúng dường.

Nhìn tách trà đang nóng, đang bốc hơi và đang từ từ đầy lên; tôi hồi tưởng những năm về trước đây khi còn ở quê nhà và Ngài còn mang cái xác thân hữu hạn ấy trên trần thế nầy.

Cuộc đời của tôi mặc dầu theo làm thị giả Ngài cũng nhiều lần khi còn là một chú tiểu; nhưng, khi bắt đầu lớn lên và biết khôn thì tôi được cái diễm phúc khó quên ba lần theo sát với Ngài.

* Lần thứ nhất 1965:

Sau khi cách mạng 01-11-1963 thành công, Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất ra đời. Ngài là vị Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Thanh niên, Sinh viên, Học sinh và Gia đình Phật tử. Ngài đi thăm đó đây trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt nam. Nơi nào có tổ chức Thanh thiếu niên, có tổ chức Gia đình Phật tử là Ngài đều có mặt. Tuyến đường cuối cùng là Thừa thiên và Quảng trị (Quảng trị là sanh quán của ngài).

Chuyến ra Huế ngài ở lâu nhất. Ngài đi thăm hầu hết các Tổ đình. Ngài cùng chư vị Đại tăng thọ trai tại Tổ đình Trúc lâm. Tôi làm thị giả. Trong bữa cơm đạm bạc ấy, chư Đại tăng cùng hàn huyên với nhau qua câu chuyện Pháp nạn 1963. Câu chuyện khi bổng khi trầm. Tôi thỉnh thoảng lại phải quanh để hầu cơm quý ngài. Khi đến sau lưng Thượng tọa Thích Thiện Minh, tôi đưa tay ra đỡ cái chén để đơm cơm, Ngài nhìn tôi miệng mĩm cười rồi bảo:

“Các chú cố gắng lo tu học nhiều đi, các Thầy lớn bây giờ phải gánh vác việc Giáo hội từ trung ương đến địa phương, nên rất ít có thì giờ để trực tiếp giảng dạy như ngày xưa được. Các chú nên theo những gì chúng tôi đãlàm, đang làm để mai sau thay thế chung tôi mà lo cho Đạo, cho Dân và cho Tổ quốc, ...”.

Tôi chỉ nghe được đến đây thì một sư huynh trong chùa nhờ tôi chỉ cách pha trà. Bữa cơm đạm bạc ấy vẫn diễn ra trong bầu không khí đầy thiền vị của chốn già lam Trúc lâm.

Sau giờ nghỉ trưa xong, tôi tiếp tục hầu trà và các Ngài cũng từ từ lên xe về lại Từ đàm.

* Lần thứ hai:

Pháp nạn 1966 lại diễn ra một lần nữa. Chư Tăng Ni và Phật tử phát nguyện tự thiêu thân để cúng dường cũng như để bảo vệ Chánh pháp. Thượng tọa Thích Trí Quang vào Tỉnh đường để tuyệt thực. Thượng tọa Thích Thiện Minh lại phải vào Sài gòn để trực tiếp điều khiển cuộc tranh đấu. Trước khi ra đi, Ngài cũng dùng cơm với chư Đại Tăng ở Tổ đình Từ đàm - Huế và tôi cũng được làm thị giả.

Trong bữa cơm nầy, Ngài cũng trong cốt cách ung dung tự tại của một thiền sư. Tuy thế, thỉnh thoảng Ngài cùng với chư Đại Tăng phải thở ra những giây phút não nề cho vận nước và của Đạo pháp.

Ngài bảo nhỏ:

“Chúng ta nào có ưa tranh đấu hay giành quyền làm gì, chúng ta chỉ muốn làm sao Dân thì được no cơm ấm áo và có một trình độ văn hóa trung bình. Còn Đạo pháp thì được tự do bình đẳng như nhau.”.

Bữa cơm chưa xong, một công điện của Giáo hội trung ương đánh ra, nội dung ra sao thì tôi không được biết. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ là cần Thượng tọa Thiện Minh vào gấp Sài gòn. Quý Đại Tăng từ giả nhau, tôi theo chân bổn sư vào lại Trúc lâm.

Chính phủ dân cử được thành hình như nguyện vọng của tòan dân và Phật giáo. Thượng tọa trở lại cố đô Huế để thăm. Phật đản 1971 lại trở về với người con Phật. Tôi lên đường làm Sứ giả Như lai để về chứng minh và thuyết giảng các lễ đài thuộc quận Vinh lộc theo sự yêu cầu và thỉnh mời của Thượng tọa Thích Lưu Đức, lúc bấy giờ là tọa chủ Túy vân Quốc tự và cũng là Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại quận nầy.

Sau ba ngày đại lễ đã xong, tôi trở lại Từ đàm để tường trình công tác Phật sự trong những ngày qua lên tỉnh hội. Xe đi ngang qua trường Quốc học, mọi người xôn xao chạy lui chạy tới và hô lớn:

“Tự thiêu, thầy tu tự thiêu”.

Trong cảnh ồn ào náo nhiệt ấy, đa phần là tuổi trẻ cứ chạy Honda lung tung. Nhóm nầy hoan hô, nhóm kia đá đảo.

Anh Phan Văn Gái, một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà là Huynh trưởng của Ban Hướng dẫn GĐPTVN tại Thừa thiên - Huế, nói lớn:

“Cái gì còn có đó, còn có lệnh thượng cấp là Giáo hội, các anh không nên làm loạn. Làm như vậy là bị bọn Cộng sản nằm vùng lợi dụng. Làm vậy là có lợi cho Cộng sản. Các anh phải vâng lời và tuân theo chỉ thị của Giáo hội, các anh phải ...”

Tôi chỉ nghe được đến đây mà thôi, vì người quá đông. Câu nói của anh Phan Văn Gái rất có giá trị. Tuy thế, sau khi anh bị đi cải tạo, người ta đem câu nói ấy ra tại trại một lần nữa. Và anh đã đem cái dũng của Phật giáo ra để xác nhận là anh đã nói như vậy.

Tôi về đến Từ đàm thì mới biết chú Sa di Chơn Thể tu tại Tổ đình Tường vân đã phát nguyện tự thiêu để cầu nguyện hòa bình, cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn và cho dân tộc sớm được no cơm ấm áo. Một ngày bố tát của Chư Tăng bản tỉnh Thừa thiên tại Tổ đình Linh quang, trước khi lễ Thượng tọa Thích Thiện Minh xin chư Tăng có một vài lời giải thích việc làm của Giáo hội trong những ngaỳ thán gvừa qua.

Trước chánh điện Linh quang, trước chư Tăng, trong sắc phục của Như lai với chiếc kính màu đen, với chiếc gậy chống bên cạnh. Ngài lúc nào cũng phải chống gậy vì bị Tổng thống quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu cho nhân viên ném lựu đạn để ám sát Ngài, nhưng Ngài chỉ bị thượng nặng ở bàn tọa chứ không chết. Vì thế, Ngài ngồi thấp không được mà phải đứng hàng giờ để nói chuyện.

Cũng vì Ngài bị bể bàn tọa nên tờ Sóng thần đã đăgn đăng hàng tít lớn ở trang đầu rất tiếu lâm do Chu Tử viết có câu như sau:

- “Thượng tọa bể bàn tọa”.

Nhưng sau đó, ông nhà báo nầy có tên là Chu Văn Bình với bút hiệu Chu tử cũng tranh đấu, cũng xách bị xuống đường rồi cũng bị nhà cầm quyến đương thời đàn áp.

Luật nhân quả đến với ông ta là bị thương ở mặt, rồi cũng bị quần chúng đặt lại một vế đối để đối lại như sau:

- “Văn bình sức miệng bình”.

Trong dáng đứng khấp khỉnh nhưng rất uy nghi, Ngài chậm rãi nói như sau:

- “Kính thưa quý thầy, chúng ta là hàng đệ tử Phật, chúng ta lại là con dân nước Việt, chúng ta không thể làm ngơ khi đất nước điêu linh, dân chúng lầm than và đạo pháp lâm nạn.

Vấn đề tự thiêu của chú Sa di Chơn Thể là một sự hinh sinh vô cùng cao đẹp. Rất tiếc là chú hinh sinh còn quá trẻ, chưa đến lúc phải hy sinh thân mạng như thế. Tôi thưa với các thầy trẻ hiện diện hôm nay rằng: Việc gì cũng phải suy nghĩ chín chắn, còn có Giáo hội, còn có chúng tôi. Việc đất nước và đạo pháp là việc chung, rất trọng đại. Một ngày nào đó, các thầy các chú cũng phải thay nhau gánh vác. Lớp nầy nằm xuống thì lớp kia đứng lên. Lúc nào cũng đem, tâm nguyện tu hành và lợi tha mà hành hoạt thì Phật tổ sẽ gia hộ cho chúng ta, hồn thiên sông núi cũng chứng tri cho chúng ta.”.

Vì còn thì giờ dài để chư Tăng làm lễ Bố tát, nên Thượng tọa thăm hỏi vắng tắt và từ già để đi vào thăm bổn sư là Hòa thượng Đệ nhị Tăng thống cùng Tổ đình Thuyền tôn.

Trong lúc đi cùng gồm hai xe. Xe trước do cố Thượng tọa Thích Thiện Lộc làm tài xế chở Ngài Hòa thượng Thích Thiện Siêu, xe sau do Hòa thượng Thích Mật Hiển tự lái lấy, tôi cũng được tháp tùng làm thị giả.

Xuống xe, các ngài từ từ tiến về cổng chùa. Thượng tọa Thích Thiện Minh đã than:

- “Bậy thiệt, răng Ôn lại cho xây cái hồ ngay trước chùa sâu như cái hố rứa không biết?”.

Thượng tọa Thiện Lộc trả lời:

- “Thiện Tấn xây, chứ ai nữa.”

Các Ngài chỉ thở dài và cùng vào hầu Ôn Thuyền tôn. Trà là xong xuôi, Ngài cùng với Hòa thượng Thiện Siêu thưa chuyện với Ôn như sau:

“Ôn cho đào cái hồ trước cổng chùa như rứa, không có lợi cho Tăng chúng, không có lợi cho môn phái lắm đó.”.

Ôn Thuyền Tôn day:

“Cái chú Thiện Tấn, nó xây đó. Tôi nói mà nó không chịu nghe. Nó nói, nó xây hồ Quán Âm.”.

Quý Ngài đi thăm trong chuyến ấy cũng đồng ý là không nên đào sâu như thế. Cuối cùng là cái hồ bị bỏ dở.

*Lần thứ ba 1976:

Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam. Tất cả phải lập lại cuộc đời, trong đó có Tăng Ni. Tôi cùng với chư Tăng Giáo hội Đà Nẵng và một số Phật tử khác đứng ra lập một tổ hợp xe đạp lấy tên là Tổ hợp Đoàn kết. Thượng tọa Thích Minh Tuấn là Giám đốc, tôi làm Quản lý. Vì công tác chung nên phải thay phiên nhau vào Sài gòn để mua vật liệu. Tôi được đề cử đi trong chuyến thứ ba thượng tuấn tháng 6-1976.

Ở lại hai ngày tại chùa Già lam. Tôi được Hòa thượng Thích Trí Thủ cho phụ làm nấm với thầy Nguyên Giác, tức thầy Nguyễn Khắc Dũng cùng học ban Tú tài năm xưa (bây giờ đang ở tù với thầy Trí Siêu và Tuệ Sỹ).Trời về chiếu, Thượng tọa Thích Thiện Minh đến thăm Ôn Già lam và tu viện. Khi nghe Thượng tọa đến, Hòa thượng đã mặc áo vàng chế trà sẵn để đãi Thượng tọa.

Nhưng không biết tại sap khi Thượng tọa đến gần cây vú sữa và tháp chuông của Già lam, Ngài đứng lại. Trong lúc ấy, các thanh niên Tăng từ từ bao quanh Ngài. Ngài ngồi trên bậc gác chuông để nói chuyện với anh em Tăng trẻ. Ngài nói hết giờ nầy qua giờ khác, mặc dầu Hòa thượng đã cho chú thị giả cho ra mời hai ba lần.

Ngài ung dung tự tại và chậm rãi nói nhu sau:

-“Đất nước và Đạo pháp còn gánh chịu nhiều cam go hơn nữa”.

Ngài nói chưa hết câu thì một vị Tăng trẻ thưa:

- “Thưa Thượng tọa, hay Thượng tọa nên tạm lánh ra nước ngoài một thời gian, sau đó tìm cách xoay xở. Dù sao ở bên ngoài cũng có thì giờ tự do hơn.”.

Vị Tăng trẻ nói đến đây, Ngài nói tiếp ngay:

- “Các chú phải biết, Thầy đi ra ngoài lúc nào cũng được. Tuy nhiên, Thầy không thể bỏ Giáo hội, bỏ Đạo pháp, bỏ quý Thầy, bỏ Dân tộc và bỏ Quê hương trong lúc nầy được. Lúc nầy là lúc mình phải có trách nhiệm. Nếu cần đổi mạng sống để có tất cả như Thầy vừa kể, Thầy cũng an tâm hoan hỷ. Các chú phải biết: ra ngoài là mình nhục nhã lắm. Họ sẽ xem mình ra gì nữa. Mình không thương dân mình thì làm sao họ thương dân mình”.

Câu chuyện anh em Tăng trẻ thưa qua, Thượng toạ dạy lại. Thượng tọa nhắn nhũ rằng:

- “Các chú cố gắng mà thương Đạo, thương Quê hương dưới mọi hình thức. Ai còn tu hay không, còn giữ được áo cũng thế cả.”.

Anh em có mặt trong chiều hôm ấy chỉ biết im lặng và ngoan ngoãn cúi đầu nghe những lời giáo huấn đó.

Thượng tọa ngồi tâm sự với anh em mất ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng Hòa thượng Thích Trí Thủ phải đích thân ra mời và trên tay còn có một tách trà còn nóng. Thượng tọa thương kính trước cung cách của Hòa thượng Thích Trí Thủ như thế, Ngài đành từ giả anh em Tăng trẻ.

Đó là lần cuối cùng của đời tôi được gặp Ngài. Ngài mai tôi trở lại Đà Nẵng và vài tháng sau, tôi từ giả Đà Nẵng và trở về Huế để hầu hạ Bổn sư.

Một tin sét đánh ngang tai, khi tôi nghe đài BBC cho hay là Thượng tọa Thích Thiện Minh, một chính trị gia lỗi lạc của khối Phật giáo Ấn quang đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt nam bức tử trong lao tù tại Sài gòn.

Cũng từ đó, tôi tìm đường lánh nạn ra hải ngoại đến Denver, tôi tại dựng đoàn Thanh niên Học Phật Thiện Minh. Ở Lyon, Pháp quốc, Thượng tọa Tánh Thiệt cũng lập ngôi chùa mang tên Thiện minh. Ở California, Gia đình Phật tử cũng lập miền Thiện minh. Và hằng năm, tất cả những ngôi chùa Việt nam ly hương trên thế giới cũng tưởng niệm Hòa thượng Thích Thiện Minh, trong đó có Tổ đình Từ đàm Hải ngoại với tách trà còn nóng để tưởng nhớ đến hạnh nguyện vô úy của Ngài.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/01/2018(Xem: 16750)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 14847)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9743)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 5937)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12489)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 130259)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 8850)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7304)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6771)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.
19/10/2017(Xem: 22398)
Truyện thơ: Hoàng Tử Khéo Nói và Con Thủy Quái, (thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi PRINCE GOODSPEAKER AND THE WATER DEMON của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson) , Ngày xưa có một ông vua Trị vì đất nước rất ư công bằng Cạnh bên hoàng hậu đoan trang Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình. Thế rồi hoàng hậu hạ sinh Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng Nhà vua sung sướng vui mừng Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên Mong cho con lúc lớn lên Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai Vua bèn đặt tên con trai Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.