Cái Gì Trân Quí Nhất

10/04/201312:20(Xem: 7168)
Cái Gì Trân Quí Nhất

spider_1CÁI GÌ TRÂN QÚY NHẤT

Thích Hải Tín

---o0o---

Thuở xưa, trong một thành nọ, có một ngôi chùa tên là Viên Âm, mỗi ngày có rất nhiều người đến thắp hương lễ Phật, nên chùa cũng rất hưng thịnh. Trên xà ngang (đòn tay) ở nóc chùa có con Nhền Nhện (Tri Thù) giăng tơ làm tổ. Do vì mỗi ngày đều chịu nhiều khói hương và sự kiền thành lễ bái xông lên, cho nên con Nhền Nhện đã có Phật tánh. Trải qua hơn một ngàn năm tu luyện, Phật tánh của Nhền Nhện cũng đã tăng lên nhiều.

Một ngày nọ Đức Phật quang lâm đến chùa Viên Âm, thấy hương khói nơi này rất thịnh vượng, Phật rất hoan hỷ. Lúc rời chùa, bất ngờ nhìn lên, thấy con Nhền Nhện trên xà ngang, Phật dừng lại, nói với Nhền Nhện rằng: “ Ta và ngươi có duyên mới gặp nhau, thấy ngươi tu luyện ở đây hơn ngàn năm rồi, không biết ngươi đã có kiến giải hay thấu triệt gì chưa, vậy Ta muốn hỏi ngươi một vấn đề, có được không?” Nhền Nhện gặp được Phật Nhền Nhện rất vui mừng, liền đồng ý lời Phật nói.

Đức Phật hỏi Nhền Nhện rằng: “Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện suy nghĩ một hồi rồi đáp rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Đức Phật khẽ gật đầu rồi rời khỏi chùa Viên Âm.

Như vậy 500 năm đã trôi qua, Nhền Nhện vẫn tu luyện trên xà ngang của chùa Viên Âm. Tánh Phật của Nhền Nhện ngày càng sáng ra. Một ngày nọ Phật tổ lại đến chùa, nói với Nhền Nhện rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi vẫn khỏe chứ? vấn đề 500 năm trước, ngươi có hiểu biết gì sâu rộng chưa?” Nhền Nhện đáp rằng: “Bạch Phật, con cảm thấy cái trân quý nhất trên đời này vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Đức Phật nói: Ngươi tiếp tục tu luyện và suy nghĩ thêm đi, Ta sẽ tiếp tục đến tìm ngươi”.

Năm trăm năm nữa lại trôi qua, một ngày nọ, gió mạnh nổi lên, gió thổi một giọt nước cam lộ bay và vướng vào ổ lưới Nhền Nhện. Nhền Nhện nhìn giọt cam lộ, thấy nó trong suốt óng ánh rất đẹp, bèn sanh ý ưa thích. Nhền Nhện mỗi ngày ngắm nhìn giọt cam lộ rất vui vẻ, nó cảm thấy rằng đây là những ngày vui vẻ nhất trong hai ngàn năm nay.

Bỗng nhiên một cơn gió mạnh thổi đến, giọt nước cam lộ kia cũng bị gió thổi đi mất. Nhền Nhện trong phút chốc cảm thấy mất đi cái gì đó, cảm thấy cô đơn buồn tẻ khó chịu. Lúc này Phật tổ lại đến, hỏi Nhền Nhện rằng: “Nhền Nhện à, năm trăm năm nay ngươi suy nghĩ kỹ vấn đề: Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện nghĩ đến giọt cam lộ, vẫn đáp với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái quý nhất là vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Phật nói rằng: “Hay lắm, ngươi đã kiến giải như vậy, hiểu biết như vậy, vậy Ta cho ngươi đi một vòng ở thế gian vậy”.

Như vậy, Nhền Nhện đầu thai làm một tiểu thơ giàu có, làm con của một gia đình quan đại thần, cha mẹ cô ấy đặt cho cô ấy một cái tên là Tri Nhi (Bé Nhền Nhện), đến năm 16 tuổi Bé Nhền Nhện đã trở thành một thiếu nữ thướt tha yểu điệu đẹp đẽ sạch sẽ cảm động lòng người.

Một ngày nọ, vua trong nước quyết định tổ chức tiệc mừng công cho tân khoa bảng vàng trạng nguyên Cam Lộc ở phía sau hoa viên. Trong buổi tiệc có rất nhiều thiếu nữ trẻ tuổi đến tham dự, có cả tiểu công chúa Trường Phong của vua. Trong buổi tiệc chàng trạng nguyên Cam Lộc, đem tài nghệ của mình ra cống hiến, như thi từ ca phú, tất cả thiếu nữ trong buổi tiệc không ai không bị tài nghệ của chàng trạng nguyên kia thuyết phục. Nhưng Bé Nhền Nhện không có gì tỏ ra lo lắng hay ganh tỵ gì, vì cô ấy biết, đây là nhân duyên Phật tổ thưởng cho cô ấy.

Mấy ngày sau, kể ra thì cũng lạ thật, lúc Bé Nhền Nhện đưa mẹ đi thắp hương lễ Phật, cũng lúc ấy Cam Lộc cũng đưa mẹ đến lễ Phật. Sau khi thắp hương lễ Phật xong, hai người mẹ đứng một bên thăm hỏi chuyện trò, Bé Nhện và Cam Lộc vừa đi trên hành lang vừa trò chuyện, Bé Nhền Nhện rất vui vẻ nghĩ rằng, cuối cùng mình cũng được ở bên cạnh người mình yêu thích, nhưng Cam Lộc không có biểu hiện với sự vui thích của cô ấy. Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) nói với Cam Lộc rằng: “Lẽ nào bạn chưa từng nhớ sự việc trên mạng lưới nhền nhện ở chùa Viên Âm mười sáu năm về trước hay sao?!” Cam Lộc rất kinh ngạc, nói rằng: “Bạn Tri Nhi ơi, bạn rất đẹp, cũng làm cho người ta thích, nhưng sức tưởng tượng của bạn hơi phong phú một chút.” Nói xong hai người chia tay nhau, cùng với mẫu thân rời chùa.

Tri Nhi về đến nhà, trong lòng nghĩ rằng: “Phật tổ đã an bài chuyện hôn nhân như vậy, vì sao không làm cho anh ấy nhớ lại chuyện trước đây? Vì sao Cam Lộc không có cảm giác gì với mình?” Mấy ngày sau, vua ban lệnh, tân khoa trạng nguyên Cam Lộc kết hôn cùng với công chúa Trường Phong, Thái tử Chi Thảo kết hôn với Tri Nhi. Tin này đối với Tri Nhi như là sét đánh giữa trời quang, cố ấy nghĩ mãi mà nghĩ cũng không thông, vì sao Phật tổ đối với cô ấy như vậy?!

Trong mấy ngày sau khi biết tin tức như vậy, cô ấy không ăn không uống gì, tính mạng rất nguy kịch sớm chiều. Thái tử Chi Thảo vừa hay được tình hình của Tri Nhi, bèn vội vàng chạy đến, bổ nhào đến bên cạnh giường của Tri Nhi, nói với Tri Nhi đang thoi thóp chút hơi tàn rằng: “Ngày ấy, trong các tiểu thư ở sau hoa viên, ta mới gặp nàng đã đem lòng yêu quý, ta đã khổ nhọc khẩn cầu phụ hoàng, phụ hoàng mới đáp ứng lời khẩn cầu của ta. Nếu nàng chết rồi, thì ta cũng không thiết sống nữa”. Nói xong, bèn rút gươm định tự tử.

Ngay lúc này, Phật tổ đến, Ngài nói với thần thức của Tri Nhi sắp thoát khỏi thân xác rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi đã từng nghĩ qua, Cam Lộ (hay Cam Lồ tức Cam Lộc) do ai mang đến bên cạnh ngươi vậy? Là do gió (công chúa Trường Phong) mang đến, cuối cùng cũng do gió mang nó đi. Cam Lộc là thuộc về công chúa Trường Phong, người ấy chẳng qua chỉ là khúc nhạc chen vào trong cuộc đời của ngươi mà thôi. Nhưng lúc ấy Thái tử Chi Thảo là cây cỏ nhỏ ở trước chùa Viên Âm, người ấy đã gặp ngươi hai nghìn năm rồi, đã ái mộ ngươi hai nghìn năm rồi, nhưng ngươi lại chưa từng cuối đầu nhìn qua người ấy. Này Nhền Nhện, bây giờ Ta lại hỏi ngươi, trên đời này cái gì là trân quý nhất?”

Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) sau khi nghe những chân tướng này, bỗng nhiên đại triệt đại ngộ, cô ấy bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.”

Vừa nói xong Phật liền ra đi, thần thức của Tri Nhi cũng đã trở lại thân xác của Tri Nhi, cô ấy từ từ mở mắt ra, thấy Thái tử Chi Thảo đang muốn tự vẫn, cô ấy lập tức đánh thanh gươm rơi xuống đất, và ôm chặt Thái tử vào lòng…

Thiền Tư Thiền Ngộ:

Trên đời này rất nhiều người cố chấp việc truy cầu những gì mình đạt không được hoặc đã mất đi, mà bỏ đi, đánh mất đi hạnh phúc trước mắt có được, như những gì có ở trong tay mình, điều này thật rất không đáng biết bao?! Trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái gì “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.

---o0o---

Trình bày: Linh Thoại

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/01/2018(Xem: 6918)
Vào những năm đầu của thập niên 2000, khi cây bút đang còn sung sức, tôi viết rất nhiều bài về danh lam thắng cảnh trên quê hương Nha Trang của mình để giới thiệu trên các báo và tạp chí khắp đất nước. Trong số đó, hiển nhiên là có bài viết về ngôi chùa đã lưu nhiều hình ảnh, dấu ấn kỷ niệm vào ký ức tuổi thơ của tôi với tên gọi thân quen mộc mạc: “Chùa Núi Sinh Trung”.
08/01/2018(Xem: 17299)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 17582)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9863)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 6305)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12782)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 134613)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 9556)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7499)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6902)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.