Đường lên núi Cấm

10/04/201311:56(Xem: 7347)
Đường lên núi Cấm

nui cam 



ĐƯỜNG LÊN NÚI CẤM

Lam Khê

---o0o---

Tùy bút




Bốn giờ sáng…đòan khảo sát xuất phát từ Chùa Đông Lai tiến dần về vùng núi Cấm. Đòan đi hai xe khoảng hơn sáu mươi vị. Gồm có thầy Chủ nhiệm, quý Thầy Giáo Thọ, tăng ni sinh của ba lớp Hán Nôm cùng các vị phật tử. Hôm nay đã bước sang ngày thứ hai, và là lộ trình chính của chuyến tham quan. Khi còn cách chân núi khoảng gần câysố thì mọi người bước xuống, bắt đầu một cuộc du hành…vượt núi băng ngàn.

Tôi đi theo phái đòan đầu tiên có quý thầy dẫn đường, nhưng lần hồi bị tụt lại phía sau. Cũng may là có một số còn chậm hơn, cùng nhập bọn lại đi chung với nhau. Những người đi đoạn hậu thì chẳng cần gì phải vội vã. Đòan có sáu vị, hai thầy và bốn cô-đều học khác lớp. Trên đường đi lại góp nhặt thêm vài thành viên bị bỏ rơi lại nữa. Đi một đoạn khá xa, tôi nhìn lên ngút mắt cũng chẳng thấy tăm hơi bóng người; nhìn lại đằng sau thì chỉ có tiếng lá cây xào xạt cùng làn sương đêm giăng kín mịt  mù. Trời vẫn còn tối lắm. Cả đoàn bắt đầu ca hát và chuyện trò rôm rã cho quên bớt đường dài. Tôi tìm được cây gậy, rồi vừa thông thả bước đi, vừa khe khẻ ngâm nga một vài câu thơ. Thiên nhiên đối với tôi luôn là người bạn chí tình chí nghĩa. Có điều…lần đầu tiên leo lên ngọn núi cao hơn sáu cây số….mồ hôi ướt vã cả người, tôi chẳng còn mấy tâm sức để mà thưởng ngọan cho hết bao vẻ đẹp giữa cảnh núi rừng hùng vĩ.

Khi trời sáng hẳn thì chúng tôi đã leo lên được lưng chừng núi. Mọi người ghé vào một quán nước ngồi nghỉ và gọi cà phê uống. Tôi leo lên một tảng đá nhỏ, phóng tầm mắt nhìn quanh khắp chốn. Cảnh núi rừng buổi sáng sao mà yên ả quá. Không một tiếng chim rừng ríu rít. Không cả một cơn gió nhẹ thoảng qua. Trong sự bình yên tĩnh mịch này, tôi bỗng nghe có tiếng róc rách của suối ngàn. Dòng suối từ trên đỉnh cao đổ xuống ở phía bên kia thung lũng; vì bị che chắn bởi rừng cây trước mặt nên tôi không trông thấy gì. Nhưng tiếng suối reo trong nắng sớm, khung cảnh núi đồi huyền hoặc như sương khói khi gần khi xa…gợi cho lòng người biết bao là thi vị. Bất chợt đã làm cho tôi nhớ đến bài thơ của một nhà thơ cổ nổi tiếng:

“Bầu trời cảnh Bụt

Thú Hương Sơn ao ước bây lâu nay

Kìa non non nước mây mây

Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải?

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái

Lửng lờ khe yến cá nghe kinh

Thoảng bên tai một tiếng chày kình

Khách tang hải giật mình trong giất mộng

Này suối Gỉai Oan

Này non Phật Tích

Nhát trong lên ai khéo vẽ nên hình”

Ơû đây nào phải là “Hương Sơn phong cảnh” của thi sĩ Chu Mạnh Trinh, nên làm gì có đệ nhất động. Cũng chẳng có: “rừng Mai, khe Yến”, không có cả “suối Giải Oan”cùng “Am Phật Tích”. Nhưng non nước mây trời và cảnh bụt thì chắc là không thể thiếu. Đoàn “du khảo” chúng tôi đang lần tìm về cảnh Phật. Nơi in dấu tích của các bậc tiền nhân đi khai sơn mở đất. Đến đây rồi mới thấy hết sự bạt ngàn của sông núi Quê hương. Đến đây mới thấm hiểu được muôn vàng sự khổ nhọc của con người. Những ngôi chùa mang tầm vóc qua các thời đại. Những ngôi đền thờ chứa đựng biết bao điển tích hiển linh thần bí. Bao nhiêu đó cũng đủ hình thành và tồn tại để cho người đời sau  có dịp chiêm bái tự hào. Còn người đi xây đắp thì cứ mãi cần cù lặng lẽ giữa chốn rừng sâu im vắng.

Dọc đường chúng tôi cứ phải dừng lại nghỉ ngơi bên mấy quán cốc. Quán nào cũng treo đầy những chiếc võng miễn phí để chào mời khách. Họ bày bán đủ các thứ trên đời. Từ quà lưu niệm, thức ăn chay, đồ uống đủ loại…cho đến thuốc chế biến từ cây rừng và cả dầu thoa bóp .Có quán còn chưng dọn cả dàn karaoke hát ca inh ỏi (núi rừng bây giờ cũng văn minh lắm rồi).Trên đường tôi gặp rất nhiều người dân tộc. Họ trao đổi với nhau bằng thứ ngôn ngữ riêng, nhưng tôi đoán biết là họ cũng đang miệt mài nói về công việc làm ăn. Bứơc chân của họ đi xuống một cách thoăn thóăt lẹ làng. Khi đi lên, họ trải từng bước vững chắc trên các bực thang đá thẳng đứng.Trên vai họ là những gánh hàng hóa nặng trĩu…nào là vật dụng đồ đạt của khách, nào là gạch ngói sắt đá xây dựng, cho đến những giỏ mít, chuối,dâu được mang từ trên núi cao xuống.

Còn chúng tôi, sau khi gởi hết mọi tay nải, túi xách cho nhẹ nhàng…Mỗi người chỉ mang theo một chiếc gậy, một cây quạt phe phẩy ma øthung dung cất bước, cứ y như các vị thiền sư đi dạo cảnh Yên Tử thuở xưa. Dù sao thì đi chậm vẫn có cái thú riêng của nó …Bởi lẽ .tôi sẽ được nghiền ngẫm cho hết những đoạn đường dốc đá cheo leo khúc khuỷu lượn quanh các triền núi. Chúng tôi lai có dịp nhìn ngắm bầu trời xanh thẩm một cách thỏa thích mỗi khi …ai đó thấm mệt, phải dừng lại chống gậy ngửa mặt lên trời để thở. Rồi  còn gì thú vị hơn khi đã quá mỏi mệt vì đói, chúng tôi lại tạt vào một quán ven đường để thưởng thức món ăn đặc sản của núi rừng. Đó là những chiếc bánh xèo nóng hổi, ăn kẹp với vài món rau rừng có cái mùi vị chua chua chát chát mà sao cảm thấy ngon miệng lạ thường.

Đến quá chín giờ sáng thì đoàn chúng tôi cũng leo lên được tới cổng chùa. Tất cả mọi người đều đã lên trước  đó một vài giờ, đang  ngồi nghỉ bên các dãy hành lang hoặc đi ngắm cảnh. Khi đứng trước ngôi chùa Vạn Linh đầy vẻ uy nghiêm và tráng lệ. Tôi hầu như trút hết bao gánh nặng trên đường. Chùa do Hòa Thượng Trí Tịnh khai sáng từ mấy chục năm nay_khi ấy được gọi là chùa lá. Tên gọi này đã trở thành quen thuộc với người dân ở đây; dù bây giờ chùa được xây dựng lại khá khang trang. Phía trước mặt chùa sừng sững một ngọn tháp cao bảy tầng.Đi từ xa, tôi đã nhìn thấy ngọn tháp này.Tháp vẫn còn dở dang nhưng đã lộ rõ vẻ nguy nga trang trọng .

Dù rất mệt nhưng tôi vẫn thích thả bộ dạo quanh khuôn viên chùa, để được ngắm nhìn mọi công trình đồ sộ và tận hưởng hết mọi sức sống đang vươn lên từ trong lòng đất .Ở đây con người và vạn vật dường như có sự cảm thông lẫn nhau. Phải chăng sống giữa khung cảnh yên bình này ,lòng người trở nên cao thượng và gần gũi với muôn lòai hơn. Niềm tin sẽ thắp sáng mọi chân trời phía trước, ý chí chính là động lực sáng tạo nên bao kỳ quan cho hậu thế .Ngày trước ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh tận bênTây Vực cũng bắt đầu từ một niềm tin và ý chí. Trải qua 17 năm gian khổ, ngài một mình “vượt suối băng ngàn, chịu đựng mọi sự nóng lạnh khắc nghiệt của thời tiết. Trên đường đi, ngài chỉ biết nhìn theo đám khói mây mù, dẫm trên sương tuyết mà lần hồi tiến về phía trước. Như vậy thì làm gì có được quán trọ đường hoàng để dừng bước nghỉ chân. Thậm chí đến tiếng gà gáy trong am tranh, dấu chân người qua lại chốn cầu đường cũng không hề thấy. Ngài lại phải vượt qua những dãy núi tuyết cao hơn nghìn dặm, những bãi sa mạc mênh mông. Trên không một tiếng chim kêu, dưới không một bóng thú chạy, lại luôn đối mặt với muôn vạn lần cái chết”. Sự ra đi đầy mạo hiểm của ngài Huyền Trang hoàn toàn do lòng tự nguyện. Tâm chí thành thiết tha vì đạo, cùng nguyện lực sâu dày đã giúp ngài bao lần thoát hiểm nạn, để rồi cuối cùng trở về trong niềm tôn nghinh kính phục của muôn  người, muôn đời.

Màn đêm buông xuống bao trùm mọi cảnh vật. Vậy mà bên trong chùa Vạn Linh hầu như khác hẳn. Dòng điện từ chiếc máy phát ra tỏa chiếu sáng rực. Trên khắp các dãy hành lang chánh điện, nhà tổ, nhà khách chật kín khách hành hương nghỉ lại qua đêm. Tiếng tụng kinh trầm ấm vang xa.Tiếng náo nhiệt của du khách viễn phương làm khuấy động một góc không gian tĩnh lặng. Một sự khuấy động khá là yên lành và thánh thiện. Rừng núi về đêm…bầu trời không trăng sao, mọi vật lại xa khuất tầm nhìn. Trong cảnh bàng bạc của màu trời, tôi cảm nhận có cả hơi thở của từng nhựa cây đang tuôn chảy. Vạn vật hữu tình…  để cho con người  thao thức mà suy nghiệm trong thinh lặng của lòng mình.

Đến nữa khuya thì cơn mưa bất chợt đổ xuống. Những giọt mưa rỉ rả thâu đêm như cố níu bước chân ngưòi ở lại. Thế nhưng, dù muốn dù không thì sáng mai này, đoàn du khảo chúng tôi cũng phải xuống núi. Đoạn đường đi xuống dù trơn trợt vẫn dễ chịu hơn nhiều. Mọi việc đến đi là điều tất yếu, thì sự lưu  luyến chỉ là chút khoảnh khắc nhất thời để tỏ lòng gắn bó. Mai này xin từ giã rừng núi uy linh ngàn năm còn in dấu chân người khai phá. Xin từ giã cảnh  chùa xưa còn chìm trong sương mờ mà vần quang đã tỏ rạng. Ngày mai khi trở lại thành phố, tôi xin mang về chút tình nắng gió phương xa…để lấy đó làm tin và cũng để trang trải lòng mình với muôn trùng sự sống bao la./.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/01/2018(Xem: 16659)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 14835)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9713)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 5937)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12456)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 130077)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 8836)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7301)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6770)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.
19/10/2017(Xem: 22393)
Truyện thơ: Hoàng Tử Khéo Nói và Con Thủy Quái, (thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi PRINCE GOODSPEAKER AND THE WATER DEMON của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson) , Ngày xưa có một ông vua Trị vì đất nước rất ư công bằng Cạnh bên hoàng hậu đoan trang Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình. Thế rồi hoàng hậu hạ sinh Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng Nhà vua sung sướng vui mừng Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên Mong cho con lúc lớn lên Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai Vua bèn đặt tên con trai Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.