Sắc hoa màu biển

10/04/201311:47(Xem: 6486)
Sắc hoa màu biển

bai_bien_nha_trang

Sắc hoa màu biển

Lam Khê

Ngôi nhà màu xám tro nằm vắt ngang lưng chừng một ngọn đồi, có lối kiến trúc như tu viện, được bao bọc bởi hàng cây sao thẳng tắp. Nơi đây nằm cách xa đường cái. Nhưng phóng tầm mắt có thể nhìn thấy bờ biển cát trắng cùng những đợt sóng nhấp nhô mà mỗi khi ráng chiều buông xuống, thường toả ra những tia sắc vàng lung linh tuyệt ảo.

Quế Mỹ mở cánh cổng sắt bước ra ngoài. Cô thả bộ xuống con đường đá sỏi vòng quanh triền dốc. Mỗi chiều cô vẫn đi…như thể một người đang tận hưởng sự yên vui nhàn nhã. Mà cuộc đời này còn muốn đòi hỏi gì hơn nữa chứ. Ngang một khúc rẽ, Quế Mỹ bước chậm lại, quay nhìn lên ngôi nhà và thấy đám trẻ vẫn nô đùa chạy nhảy bên mấy bụi xương rồng. Trông chúng thật hồn nhiên ngây thơ như những cành lan đất mọc dày đặc trong rừng, nhưng lại mang dáng vẻ bền bỉ của loài xương rồng vươn lên từ miền sỏi cát khô cằn.

Từ bé Quế Mỹ đã có một tình yêu thắm thiết với màu xanh muôn trùng nơi biển cả. Ngày Mẹ mất, cô hay ra biển ngồi khóc một mình. Từ ấy cô thích nhìn biển và nghe những bài hát nói về biển. Bởi từ lòng biển sâu xa kia là trái tim, là linh hồn của mẹ, là những gì yêu thương dịu ngọt nhất mà cuộc đời ban tặng cho thế nhân. Sau này khi lớn lên lập gia đình rồi có con, Quế Mỹ mới thắm thía câu nói của người xưa “Lòng mẹ bao la rộng lớn như biển trời lai láng…” cô dành trọn tình cảm cho đứa con mình rứt ruột đẻ ra, như ngày trước mẹ đã yêu thương lo lắng cho cô. Niềm hạnh phúc về thiên chức làm mẹ thật đơn sơ và cao quý biết chừng nào. Thế mà… tất cả vụt tan biến nhanh chóng sau cơn đại hồng thuỷ. Biển đã không còn bình lặng. Biển đã cuốn hết mọi thứ nơi này và cả đứa con trai thân yêu của cô mới chỉ hơn hai tuổi.

Có lẽ gần cả năm trời, Quế Mỹ đi thơ thẫn dọc quanh các bờ biển trong tâm trạng hoảng loạn thương tâm tột cùng. Cô nhận ra rất nhiều người cũng đau khổ như mình. Cảnh chết chóc diễn ra khắp nơi trên mặt biển, trên đất liền. Tiếng khóc than râm rức không nguôi và những bóng người thất thiểu như ma trơi chập chờn qua lại. Họ bới tung mọi hóc hẻm hang hóc để mong tìm thấy thân xác người thân bị vùi dập đâu đó. Đến bây giờ, Quế Mỹ không hiểu làm sao mình lại sống sót được trong bối cảnh đó. Cô đã mất hết những người trong gia đình mình, gia đình chồng, và thằng Mi Sa. Ôi thằng bé thật bụ bẩm xinh xắn. Nó là niềm tự hào của cô. Cô có thể đánh đổi mọi thứ, kể cả sinh mạng của mình, để cho con được sống, được làm người trong cuộc đời này. Lần cuối cùng cô bế nó trên tay, khi đợt sóng thần đầu tiên đổ ập vào; Cô bồng con chạy thoát ra khỏi nhà được một đoạn, thì ngọn sóng thứ hai dâng cao một cách dữ tợn phủ trùm lên hai mẹ con, và cả dòng người đang hốt hoảng chạy la tán loạn. Sau đó Quế Mỹ không còn biết chuyện gì xảy ra. Cho đến khi tỉnh dậy trong một trạm xá. Người ta nói cho cô hay là họ thấy cô nằm sóng soại trên một cồn cát nhỏ khi sóng rút, còn đứa bé:_ À! Có thể nó trôi dạt về đâu đó, và được ai đó nhặt được đem đến một nơi nào khác rồi. Trong các vườn trẻ tạm thời có rất nhiều trẻ con bị thất lạc cha mẹ.

Quế Mỹ đã đi hết các trang trại mà người ta dựng lên cho các nạn nhân. Những nơi tập trung trẻ em vừa bị mồ côi sau tai hoạ. Cô đã không gặp Mi Sa cùng một ai thân quen cả. Nhưng lòng người mẹ trẻ vẫn nuôi hy vọng. Cô đi tìm, cố hỏi thăm sang các vùng lân cận với ý tưởng là con cô đang được một gia đình tử tế nào đó nuôi nấng chăm sóc. Có rất nhiều đứa trẻ được cứu thoát vậy tại sao Mi Sa lại không. Cô chờ đợi về điều diệu kỳ của sự sống. Nhưng nó đã chẳng hề xảy ra với cô. Ôi! biển cả! Nơi Cô đã lớn lên, đã yêu thương trân trọng nó biết dường nào. Chưa bao giờ cảnh bãi bễ nương dâu, bèo mây tan hợp lại phơi bày ứng nghiệm ra trước mặt cô rõ ràng như vậy. Biển đã hiến dâng mọi thứ cho đời, để rồi lấy đi những gì nó muốn. Cuộc chiến đấu giữa con người và trùng dương, dường như chưa lúc nào hung hản đến vậy.

Giữa cảnh tranh tối tranh sáng của vùng hoang vắng điêu tàn sau thiên tai, luôn tạo ra những cảm giác lạnh lùng ghê rợn cho người ta khi đặt chân đến. Quế Mỹ đã lang thang khắp các nơi này. Khi không còn gì để chờ đợi hy vọng, cô vẫn đi ra biển mỗi buổi chiều để tìm lại một chút niềm khuấy động tâm tư như ngày mẹ mất. Sóng gió đã êm mà lòng người vẫn triền miên đau khổ. Đời người là một bức tranh vẽ đầy những cảnh sanh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ… Cô từng nghe nói nhiều về điều đó, đến bây giờ khi chứng kiến mọi hiện thực xảy ra, cô vẫn không thể hiểu con người ta làm sao có thể sống nổi với chừng ấy sự khổ đau.

Cảnh chiều trên bãi biển không còn giữ nguyên vẻ thơ mộng như ngày nào, dù người ta cố gắng khôi phục lại mọi thứ. Quế Mỹ chiều chiều vẫn ra đây dõi mắt nhìn về phương trời xa xăm. Chẳng có gì ngoài những bó hoa mà ngày ngày được mọi người mang tới thả xuống biển, như một cách để tưởng niệm người đã khuất. Quế Mỹ cũng tìm được một đoá hoa rừng có màu của nước biển và gởi gấm trong đó những lời nguyện cầu vô vọng của mình. Biển sẽ mang những bó hoa này đi…đi mãi cho đến tận cùng bên kia của sự sống.

- Cô có tìm thấy chút bình yên nào không khi cứ mãi đứng mãi như thế này ?

Quế Mỹ ngước lên và thấy một vị tu sĩ đang đứng cạnh mình. Hằng ngày có nhiều người như thế đến đây, mang theo đầy lòng trắc ẩn thương cảm. Những lời an ủi trong lúc này còn có ý nghĩa gì nữa không ?

Vị tu sĩ vẫn đứng đó, dường như muốn chờ đợi câu trả lời. Quế Mỹ quay mặt ra biển rồi cười khảy, cô nói như chỉ để có nói :

_ Tôi đứng đây, để được nhìn thấy những người thân yêu, cùng dân làng vô tội của mình đang ở tận dưới kia. Chắc chắn họ cũng muốn Tôi theo về đoàn tụ. Vậy còn Ông. Từ đâu lại đến đây làm gì. Chẳng ai mong cầu điều gì nơi Ông cả.

_ Tôi đến cũng như bao người khác đã từng đến. _ vị tu sĩ từ tốn nói, không bận tâm về sự hằn học của người thiếu phụ _ Những nơi mà bao tâm hồn đau khổ luôn cần được chở che giúp đở. Nơi có những con người dừơng như mất hết tất cả mọi thứ. Một lời chia sẻ cảm thông trong lúc này cũng làm họ vơi bớt niềm thương tâm....

_ Nhưng Tôi không cần những lời đó. –Quế Mỹ la lên. Nếu Ông có thể làm được điều mà Ông nói là cứu khổ ban vui đó, thì hãy làm sao cứu sống lại con trai của tôi đi. Còn không thì thôi, Tôi không muốn nghe gì nữa cả.

- Tôi không thể làm được điều như Cô mong muốn. Nhưng Tôi vẫn có thể giúp được chút gì đó chứ. Trước tiên Tôi muốn kể cho Cô một câu chuyện xảy ra từ thời Đức Phật còn tại thế. Khi ấy có một thiếu phụ đến tìm ngài với đứa con nhỏ chết cứng trên tay. Người mẹ đau khổ khóc lóc van xin Phật dùng phép mầu cứu sống đứa con trai là nguồn sống duy nhất của bà. Phật dịu dàng bảo Bà đi kiếm một nắm tro bếp nơi một gia đình nào chưa từng có người chết thì Ngài mới cứu đứa bé được. Bà ta ôm con đi khắp làng xóm thôn ấp, với hy vọng tìm được nắm tro như thế. Cho đến chiều bà trở lại chỗ Phật với đôi tay trống không và cõi lòng thanh thản. Bà đã đi hết mọi nơi. Không nhà nào không từng có người chết. Lại một lần khác. Phật gặp một người đàn bà đang đứng trước nghĩa trang khóc lóc thảm thương vì đứa con gái của bà vừa chết được chôn cất trong này. Ngài nói:_ Khu nghĩa trang này có hằng vạn đứa bé cùng tên họ như con bà. Vậy thì bà khóc cho ai đây ? Người đàn bà bừng ngộ, ngừng khóc.

_ Chỉ có vậy thôi sao ? Tôi đã từng nghe nhiều câu chuyện đại loại như thế rồi _ Quế Mỹ chậm rãi ngắt ngang, đầy vẻ bất cần.

_ Đó là chuyện ngày xưa, mà ngày nay hay bất cứ thời đại nào vẫn luôn có ý nghĩa nhất định. Không ai chờ đợi điều bất hạnh đến với mình cả. Vậy mà nó vẫn đến ở mọi lúc mọi nơi. Buồn đau mãi cũng đâu thể làm sống lại những gì đã mất. Cô hãy nhìn lại cuộc sống quanh mình đi. Bao nhiêu người cũng mất mát đau thương như cô. Nhưng mọi người đều tìm cách vươn lên để tồn tại, và để quên đi quá khứ đau buồn.

_ Nếu phải quên đi những người đã mất quả là một điều bất nhẫn...

_ Một cuộc sống có ý nghĩa cũng là một cách để tuởng nhớ, chứ đâu phải cứ thở than thương khóc rồi tự vùi dập mình. Còn bây giờ Cô hãy nhìn lên ngọn đồi phía bên kia kìa. Một câu chuyện hiện thực đang xảy ra nơi ấy. Ơû trên đó có hàng trăm đứa trẻ mất cha mất mẹ. Có rất nhiều người phụ nữ đã mất hết con cái và người thân thuộc trong đợt sóng thần vừa rồi. Họ nương tựa về chung một mái nhà để cùng chia sẻ, cùng sống vì mình vì mọi người. Ngôi nhà này do một nữ tu người nước ngoài mới thành lập để nuôi trẻ mồâ côi sau thiên tai. Nhiều chị em đã tình nguyện đến ở đây làm việc và chăm sóc bọn trẻ. Cô tới đó đi để thấy họ tồn tại như thế nào. Những con người chưa từng là thân thích quen biết, vậy mà họ đã thương yêu đùm bọc lẫn nhau để làm lại cuộc đời.

Cô quay qua định cãi lại, thì chợt trông thấy mấy đứa trẻ trong ngôi nhà mở đang đi học về được một người người phụ nữ dẫn lên ngọn đồi. Ngôi nhà đó cô đã từng được nghe nói đến, từng đi qua và nhìn thấy. Nó vẫn là ngôi nhà như bao ngôi nhà khác, chẳng bao giờ cô nghĩ nó thuộc về phần đời của mình cả. Phải! Chưa bao giờ.

...Khi Quế Mỹ trở về thì trời đã nhá nhem tối, vừa bước chân vào nhà thì thằng Mi Sa đã chạy ra ôm lấy chực khóc :_ Mẹ! anh Bo dành đồ chơi rồi còn đánh con nữa kìa.

Mi Sa được nhặt về đây khi còn ẩm ngửa, vừa nhìn thấy nó cô đã yêu ngay, rồi lấy tên đứa con đã mất của mình để gọi cho thằng bé. Suốt ngày nó cứ quấn theo chân cô.

_ Nào! Các con phải ngoan ngoãn lên chứ. Anh chị em sống chung cùng mái nhà phải thương yêu nhường nhịn nhau, đâu có chuyện dành giựt đánh đá nhau như thế. Này các con có nghe Mẹ nói gì không vậy. ?

Bọn trẻ đã lui về phòng học bài hết. Quế Mỹ cũng bước đến chiếc bàn nhỏ dở sổ sách ra coi. Cô mở cánh cửa sổ nhìn thông ra biển. Biển về đêm yên lặng trong tiếng vỗ về của từng ngọn sóng miên man chập chùng lên xuống. Dù biển có làm gì, thì Quế Mỹ vẫn chưa bao giờ thấy lòng mình cách xa với nó. Giông tố rồi cũng qua, để cho mỗi người tự đi theo quy trình bất diệt của sự sống còn. Trên bờ mặt bao la của biển vẫn không ngừng nổi lên nhiều đoá hoa với mầu sắc thật lạ. Những sắc hoa màu biển mang cả tình yêu thương nào đâu biết đến bến bờ phân biệt.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 11633)
Chuyến hành hương Thái Lan và Nhật Bản bắt đầu từ ngày 22 tháng 10 đến mùng năm tháng 11 năm 2012, vào một sáng mùa thu với nắng vàng ươm và se se gió lạnh. Có ai biết con số ghi tên tham dự chuyến hành hương Nhật Bản này lên đến bao nhiêu không? Trước giờ khóa sổ vào đầu tháng 10 là hơn một trăm vị, sau rút lui từ từ để dừng lại con số 85 với 14 quốc gia trên thế giới. Một con số đáng ngại trong lịch sử đi hành hương của quý Thầy.
20/03/2013(Xem: 5113)
Tác giả sinh năm 1937, 63 tuổi, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts. Công việc: Technician hãng điện tử ở Mass. Sau đây là bút ký về California lãnh Giải Thưởng do ông Luận viết. Bài đã phổ biến trong sách VVNM 2001, nhưng “mất tích” trên Việt Báo Online. Xin mời cùng đọc lại. Hình trên, từ trái: Thượng Nghị Sĩ California, Ông Joe Dunn và các viên chức dân cử khai mạc cuộc họp mặt. Phía trái là nữ nghệ sĩ Kiều Chinh. Phía mặt là cô Leyna Nguyen của truyền hình KCAL9.
19/03/2013(Xem: 13743)
Tập truyện “ Làng Cũ - Người Xưa” của Tiền Vĩnh Lạc (Australia) .Sách dầy 216 trang, bìa cứng 4 màu. Bìa trước cảnh nhóm chợ chồm hỗm ở làng quê tỉnh Trà Vinh. Bìa sau hình xe thổ mộ, ngưa kéo, tác giả gọi là “xe kiếng”? Nội dung gồm nhiều truyện ngắn, hồi ký, tài liệu quý giá...cùng nhiều kinh nghiệm sống viết ra ý chừng muốn khuyên răn con cháu, sách đọc thú vị và cần thiết để làm tài liệu nghiên cứu. Sách không bán, in để tặng . Ai cần xin gọi 618-8932- 3912
10/03/2013(Xem: 4249)
Nước Xá Vệ có cô gái nghèo tên Nan Đà, thân thế cô độc thân, sống bằng nghề ăn xin. Bấy giờ, cô thấy các vị vua chúa, quan đại thần, trưởng giả cúng dường Phật và chư Tăng, cô tự nghĩ: “Ta mắc tội báo gì mà sinh vào nhà bần tiện như thế này nên không thể cúng dường đấng phước điền?”. Cô tự hối trách lấy mình.
04/03/2013(Xem: 8981)
Theo lời Hòa Thượng trưởng lão Huyền Tôn kể rằng, những ngày Hòa Thượng còn ở quê nhà, nơi Tổ đình Thiên Ấn – miền Trung, có một chú sa di tên Diệu Mãn. Thường nhật Chú chỉ làm công việc quét chùa. Chú người hiền lành, ít nói, tánh tình ngồ ngộ. Đặc biệt trong chúng, ai nhờ việc gì đều hoan hỷ làm ngay. Cũng chính vì vậy, chú thường bị quí sư huynh đệ la rầy, sao đang làm việc này lại bỏ đi làm việc kia… Tuy vậy, nhưng lúc nào chú cũng hoan hỷ, không ai thấy chú câu chấp việc gì bao giờ.
20/02/2013(Xem: 24132)
Những Câu Chuyện Linh Ứng về Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát (trọn bộ 03 tập) do HT Thích Như Điển dịch Việt: Năm 2007 khi chúng tôi đang nhập thất tại Úc Châu thì có một Phật Tử tên là Huỳnh Hiệp từ Hoa Kỳ có liên lạc qua bằng E-mail cho Thầy Hạnh Tấn và nhờ tôi phiên dịch tác phẩm "Những mẩu chuyện linh ứng của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Fuchù - Nhật Bản“ từ tiếng Nhật sang tiếng Việt. Tôi bảo cứ gởi một số chuyện tiêu biểu sang Úc, tôi dịch thử. Nếu đồng ý với cách dịch ấy thì tôi sẽ tiếp tục. Sau một tuần lễ, tôi gởi trở lại 3 chuyện đầu đã dịch của quyển một cho Phật Tử nầy và anh ta rất hoan hỷ và nhờ tôi dịch tiếp cho đến hết quyển sách. Tôi trả lời rằng: "Tôi rất sẵn sàng; nhưng tôi rất ít thì giờ; khi nào xong tôi chưa biết; nhưng tôi sẽ cố gắng. Đồng thời việc đánh máy sẽ giao cho các anh chị em thực hiện". Cầm quyển sách trên tay độ 400 trang A4 thấy cũng hơi nhiều; nhưng thôi, cứ cố gắng vậy. Ông bà mình thường nói: „Kiến tha lâu đầy tổ“ quả câu nầy chẳng sai chút nào.
01/02/2013(Xem: 10521)
Tuổi Hồng Con Gái là tác phẩm đầu đời của tôi được viết vào năm 1980 cùng thời gian với tấm ảnh ngoài bìa sách. Tuy lúc đó sống ngay trên quê hương Việt Nam với dân số đông đảo mấy chục triệu người nhưng xung quanh tôi, vì hoàn cảnh hết sức đặc biệt, tôi không có lấy một người bạn, một người thân để tâm tình những lúc vui, buồn trong cuộc sống.
26/01/2013(Xem: 22510)
Cận cảnh tượng cụ Nguyễn Du bằng gỗ gù hương khủng ở Việt Nam
01/01/2013(Xem: 7427)
Ngày tôi còn học Y Khoa, ở khu Sản khoa thời đó ở miền Nam Việt Nam chỉ cho phép làm “abortion therapeutique”, với chữ ký cuả 3 vị Thầy đồng ý phải bỏ thai nhi để cứu mạng sản phụ. Và đây là chuyện rắc rối mà tôi đã gặp phải sau 1975 Anh chị M., đối với tôi là một cặp vợ chồng có tư cách rất đáng qúy, tôi luôn xem hai người như anh chị ruột của mình. Anh M., một Phật tử thuần thành, lớn hơn tôi 10 tuổi, tốt nghiệp đại học bên Pháp, là một người sống nhiệt thành vì lý tưởng, lập gia đình trễ, từng giữ chức vụ khá lớn thời Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1980, khi mới ở tù cộng sản ra, tôi là người đưa chị M. đến nhà thương sanh con gái đầu lòng – cháu Phương Thanh (tên đã được thay đổi, không phải tên thật)
28/11/2012(Xem: 10227)
Nam Tuyền chém mèo (Nam Tuyền trảm miêu)[1]. 南泉斬猫 Bản tắc: Hòa thượng Nam Tuyền[2] nhân việc các học tăng ở đông đường và tây đường cứ tranh cãi nhau vì một con mèo, mới nắm ngay nó tại chỗ và giơ lên, nói: -Nếu có ai trong các ngươi nói được một câu nào, ta sẽ tha mạng con mèo. Bằng không, ta sẽ chém nó cho coi. Chư tăng không ai đáp lại được. Rốt cục, không còn cách nào, Nam Tuyền chém con mèo. Tôi hôm đó, đại đệ tử của ông là Triệu Châu ở ngoài về. Nam Tuyền đem chuyện vừa xãy ra kể lại. Lúc đó, Triệu Châu mới tháo đôi dép cỏ mang dưới chân đội lên đầu và ra khỏi phòng. Nam Tuyền thấy thế mới bảo: -Nếu ngươi lúc đó có mặt thì nhất định con mèo không đến nổi chết.