Đôi tượng Phật.

10/04/201311:41(Xem: 4828)
Đôi tượng Phật.

Đôi tượng Phật

Chiều dần buông, khách vãn chùa lần lượt ra về, chùa Bảo Quang trở lại ninh tịnh, yên ắng. Pháp sư Trí Thông bảo đám đệ tử hồi phòng ngơi nghỉ, còn tự mình quét dọn nhà chùa, phủi sạch bụi bặm trần ai, xua tan mọi huyên náo nóng nực của cả một ngày.

Khi đến bên tượng đồng Phật Tổ tọa ở hậu điện, làn chổi của Trí Thông khẽ chạm vào thân hình một người đang nằm co ro trên nền chùa và do đó khiến anh ta tỉnh giấc.

“Lạ thật, đến giờ này mà vị khách còn chưa chịu về?”. Trí Thông suy ngẫm, nghi hoặc. Người khách vội vàng đứng dậy, lễ phép thưa trình: “Tượng Phật đây vô cùng hiền từ sinh động, thần thái siêu phàm, thoạt trông đã không nén nổi cảm xúc nên vội vàng ghi lại đôi ba nét quý giá này. Đang khi lim dim suy nghĩ và thể hội hết vẻ đẹp diệu kỳ của pho tượng thì lạc vào cõi mộng lúc nào không hay và làm sư thầy bận tâm, thật có lỗi, dám xin sư thầy xá tội”.

Trí Thông đảo mắt nhìn người khách ăn bận giản dị, thân hình gầy gò với cặp kính trắng che đôi mắt long lanh, trên tay còn cả tập ký họa, nhà sư mỉm cười:“Con có thể cho ta xem những họa phẩm kia không?”.

“Dạ không dám, mong sư thầy đừng cười”, nói đoạn, người khách đưa cho Trí Thông tập ký họa. Quả nhiên trên trang giấy mỏng manh, những đường nét sinh động, hiền từ và cả thần thái siêu phàm của pho tượng Phật Tổ được khắc họa. Xem xong, ánh mắt Trí Thông ôn hòa trở lại, nhà sư hỏi: “Tượng Phật trong chùa có đến cả trăm, cớ sao con chỉ thích vẽ mỗi pho tượng này?”.

Người khách tươi cười: “Có thể con còn ngu dại, mong sư thầy bỏ qua, con mới dám nói… Theo con, các tượng khác đều là phàm tục, chỉ mỗi pho tượng này còn mang được đôi phần tiên khí.

Đầu óc Trí Thông bừng nóng, nhà sư nắm tay người khách, “Đi theo ta”, dẫn về phòng riêng của mình.

Trí Thông mời khách ngồi, dâng trà và nói: “Con thật có kiến giải, ta xem như thượng khách. Con thấy đấy, trong chùa này ngoài pho tượng đồng Phật Tổ, còn lại đều là giả!”.

“Đều là giả?”, người khách vặn hỏi.

“Những tượng Phật mà người trụ trì trước ta để lại, mười mấy năm nay đã hư hỏng, phải dựng mới. Nhưng thợ bây giờ khác trước xa, hồi ấy, tâm trung hữu Phật, thành tâm điêu khắc, bàn tay và tấm lòng là một, tạo nên tượng phẩm. Còn ngày nay, tâm trung vô Phật, chỉ nặn được hình hài mà không mang được thần sắc, âu cũng để lừa dối kẻ tục nhân. Những hoành phi, thư pháp treo ở đây cũng thế, toàn là bản sao, chính bản đã đưa về bảo tàng di tích (!) và đến cả hòa thượng cũng giả… con ạ (!)”.

“Sao? Hòa thượng cũng giả”.

“Ăn chay, mặc thiền mà lòng không quy Phật thì làm sao gọi là hòa thượng được? Ta có vài chục đệ tử nhưng chân tâm hướng Phật thì đã dễ mấy ai. Thân kề bên Phật mà lòng mong trần tục, cho nên họ cũng xem những Phật kia là giả, đều do đất đắp dựng và không cung kính”.

Người khách gật đầu lia lịa: “Sư thầy có lý, song những thứ giả ấy cũng không ngăn được tấm lòng thành của khách hành hương, mấy năm trở lại đây, nhà chùa vẫn đông vui, hương khói vẫn ấm áp kia mà?”.

“Cho nên ta không thể nhẫn tâm dùng cái giả để đánh lừa cái thật của mọi người. Nhưng trong những đoàn người hành hương vãn chùa đã mấy ai phân biệt được thật, giả?”. Nói đến đây Trí Thông đột nhiên đứng dậy: “Hiếm ai như con, có đôi mắt tinh tường, ta sẽ đưa con xem một cái thật nữa”.

Lát sau Trí Thông từ phòng trong bước ra, tay ôm hộp cẩm. Nhà sư mở hộp, lần giở lớp lụa mỏng thì hiện ra tượng Phật bằng ngọc, tư thế nằm nghiêng, đầu gối trên tay, kích thước cỡ bằng cuốn sách nhưng nom như hài nhi sơ sinh, sáng long lanh và vô cùng diễm lệ.

Người khách kinh ngạc, vội vàng đứng lên, mắt đắm vào ngọc Phật, hai tay giơ ra mà không dám chạm vào vật quý.

“Sao con?”.

“Tuyệt phẩm, vừa thoát khỏi trần tục, vượt lên thần khí, lại quy phục tự nhiên, con ngỡ Người sẽ nói điều gì, không dám chạm vào, sợ làm Người đau”.

Lòng Trí Thông xốn xang như lửa cháy, hận một điều là kẻ tu hành nên không tỏ bày tâm đắc cùng bạn tri âm kia.

“Con biết không? Ngọc phật bao giờ cũng thành đôi, pho kia còn tuyệt mỹ hơn pho này nữa”.

“Cầm bằng sư thầy cho xem ngọc Phật cả đôi thì dù cho từ hôm nay mắt con có vì thế mà mù lòa, không còn thấy gì nữa, con cũng cam lòng”.

Trí Thông vui mừng khôn tả, nhà sư lướt đi như bay, ôm ra hộp thứ hai…

… Khói trà vẫn nghi ngút tỏa lan, nhưng “kẻ tri âm” và ngọc Phật thì không còn nữa, vỏ hộp cẩm rơi xuống nền chùa.

Màn đêm buông xuống, chùa Bảo Quang ninh tịnh như bao năm xưa không dấu chân người.

Trí Thông mặt tràn lệ chảy, quỳ trước tượng Phật, mong tìm được một lời đáp từ trong khóe mắt và nụ cười hiền từ của Ngài, vì sao trên thế gian trần tục này, người ta xem cái giả là chân thật mà thờ phụng, chiêm ngưỡng, ngược lại cái thật lại cho là giả dối mà vứt bỏ, chối từ.

PHAN PHONG (Theo Tuyển tập Truyện ngắn Trung Quốc)

----o0o---

Nguồn: http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/9/119990/
Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 23199)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4705)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18123)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21681)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17040)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5718)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15370)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 20914)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8234)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.
10/04/2013(Xem: 13991)
.Con người là một con vật biết suy nghĩ, biết tư duy; Vì thế, dù bận rộn với bao khó khăn trở ngại trong cuộc sống; dù tin tưởng vào tôn giáo này hay tôn giáo khác, hoặc vô thần đi nữa, con người cũng phải ít nhất một lần trong đời đặt câu hỏi rằng: Tại sao mình lại sinh ra ? Tại sao con người lại đau khổ ?