09. Bậc đại chiến thắng

24/10/201202:50(Xem: 12267)
09. Bậc đại chiến thắng

THANH GƯƠM BA-LA-MẬT
Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Bậc đại chiến thắng







“Ta đã chiến thắng! Ta đã chiến thắng!”

Tiếng la từ bờ sông Rohini vút thẳng lên mây. Đức vua Suvera ngạc nhiên cho đoàn hộ tống dừng chân lại. Sao lạ? Ai là kẻ hô chiến thắng trong lúc ta và đoàn quân đang rầm rộ trở về với khúc khải hoàn ca?

“- Ta đã chiến thắng, ta đã chiến thắng!”

Tiếng la từ bờ sông Rohini lại vút thẳng lên mây.

- Kỳ lạ chưa? Đức vua Suvera tự nghĩ: Tiếng hô kia không những hùng dũng mà còn toát ra sự an lạc như sự reo ca của ngàn chiếc lá sau ngày tháng đông miên khi ánh mặt trời đầu tiên vừa ló dạng. Hay là ai đã chế nhạo sự chiến thắng của ta? Ồ, mà chế nhạo sao được. Đúng là một trăm lẻ một đức vua đã run rẩy quỳ mọp dưới chân ngựa của ta; và đúng là bốn vạn viên võ tướng lừng danh khắp mấy phương trời đã cởi áo giáp quy hàng trong lửa đỏ. Đoàn quân của ta hiên ngang đầy máu và bụi. Đoàn quân ta hùng dũng đạp qua thành trì đổ nát, sông núi và xác người. Cỏ đã không mọc được dưới chân ngựa của ta. Vậy thì đúng là phần ta mới xứng gọi là chiến thắng, ta đã chiến thắng dưới gầm trời này. Thế mà, thằng nào...

- Tiểu tốt, lũ tiểu tốt – Đức vua Suvera quát tả hữu, rung đùi rồi ghếch chân trên mình con ngựa nòi giống tối thượng. Toán quân hộ vệ được được vua thích ý gọi là “lũ tiểu tốt” dạ rân bốn phía – Tới đằng kia sông, trong nháy mắt lôi cổ cái thằng người nào vừa hô to: Ta đã chiến thắng, ngu ngốc và phạm thượng ấy!

Không bao lâu, không biết là chừng mấy cái nháy mắt, người ta dẫn về trình diện với đức vua một nông dân bình thường như trăm ngàn nông dân hạ liệt trong quốc độ của ông, chỉ có đôi mắt là ngun ngút toát ra tin lửa tự tin và no đầy hoan lạc.

- Cái “thằng người” dơ dáy kia! Đức vua bốc hơi đằng miệng, giận dữ – Phải ngươi là kẻ lếu láo đã hô to: “Ta đã chiến thắng” đầu kia sông Rohini?

- Phải – nông dân ấy gật đầu mạnh mẽ – Tâu đức quyền uy cao cả!

Thấy sự gật đầu quả quyết của thằng dân tôm tép bé mọn, đức vua Suvera bất giác cất tiếng cười to như xé rách cả bầu trời.

- Thiệt là đồ xuẩn ngốc. Vua lại quát – Này thằng người kia, ngươi có thấy đoàn quân bách chiến vô địch của ta? Đấy, ngươi cứ đưa mắt nhìn thử xem?

Người nông dân rách rưới nghèo nàn nhìn gươm giáo, ngựa voi, cờ xí nhấp nhô đến mãi cuối chân trời, thấy rõ là một đoàn quân đại binh chiến thắng khải hoàn đang trở về từ những biên địa xa xăm. Nhìn xong, y vẫn lặng lẽ không nói gì, khẽ ngước nhìn đức vua rồi lại nghiêng đầu hờ hững.

- Sao? Vua đắc chí hỏi – Vậy thì có phải đáng lý ra ta mới là kẻ được quyền hùng dũng hô to: “Ta đã chiến thắng!”

Người nông dân từ từ quay lại, lắc đầu:

- Đức vua không thể là kẻ hùng dũng hô to: “Ta đã chiến thắng!”

Vua Suvera tưởng tai mình nghe lầm, dồn dập hỏi lại:

- Sao? Ngươi nói sao? Ta không phải là kẻ chiến thắng ư?

- Vâng! Người nông dân nói chậm rãi – đức vua là kẻ chiến thắng, tuy thế, chưa phải là kẻ xứng đáng để hùng dũng hô to: “Ta đã chiến thắng”. Chính tôi mới là kẻ xứng đáng!

- Thần thánh ôi! Có nghe gì không? Đức vua Suvera bất giác cười sặc sụa, vỗ mạnh vào bao kiếm rồi gọn gàng nhảy xuống mình ngựa, lại cất giọng ngọt ngào – Hãy nói đi, kẻ nông dân quý mến, kẻ nông dân thân ái à! Hãy giải thích cho rõ ràng. Nếu không – đôi mắt đức vua lửa, ánh kiếm nháng lên như con rắn xanh – Nếu không giải thích được, thì cái đầu của nhà ngươi sẽ lăn lóc như trái dừa khô… mà phọt máu! Như trái dừa khô mà phọt máu!

“Như trái dừa khô mà... phọt máu!” Đức vua lặp lai hai lần, rõ ràng là y thích cái câu đó lắm. Tuy thế người nông dân rách rưới nghèo nàn nhìn đức vua một cách bình thản, chứng tỏ y không sợ hãi chút nào, chứng tỏ cái đầu y không phải là trái dừa khô mà... phọt máu!

Bây giờ, người nông dân đang ngồi trên phiến đá, xem như không có ai, nói rằng:

- Kẻ thực sự dám hùng dũng hô to: Ta đã chiến thắng, thì kẻ đó không còn sợ ai, đấng quyền uy cao cả ạ! Ngài tưởng rằng với sự đe dọa của gươm đao mà làm cho tôi khiếp đảm sao? Không bao giờ! Ngay đối với Yama, với Diêm Vương, sự chết, hắn vẫn coi khinh! Vì hắn là kẻ CHIẾN THẮNG THẬT SƯ, TRỌN VẸN và VĨNH CỬU.

Thấy thần sắc trầm tĩnh của người nông dân, vua Suvera chột dạ, tay kiếm buông lơi. “Ồ, hắn có cái gì đây”. Đức vua tự nghĩ: “Hắn phải có cái gì đây chứ!”

Đức vua Suvera cố dằn sự tức giận:

- Vậy thì ngươi hãy nói tiếp mau đi.

- Ta sẽ nói – người nông dân gật đầu – nhưng đức vua cho tôi được hỏi, đức vua chiến thắng cái gì vậy?

Cố nhẫn nại, vua nói:

- Ngựa của ta không dừng vó, chiến sĩ của ta không cởi giáp, cứ thế từ Hy Mã Lạp Sơn đến những vùng đất rộng lớn mênh mông Gandhàra, Sàrnà phương nam Ma-kiệt-đà, hạ lưu sông Hằng, đến thượng lưu qua các xứ man di mọi rợ Tây và Tây Bắc Ấn Độ; ta đã làm cho mấy ngàn thành trì nên bình địa, thu phục một trăm lẻ một đức vua và mấy chục ngàn viên dũng tướng. Như vậy từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn là con dân của ta. Đấy gọi là chiến thắng, bạn thân mến, cuộc chiến thắng oai hùng, cổ kim chỉ có một ta!

Người nông dân thở dài:

- Chiến thắng trên máu và xác người, chiến thắng trên sự nhục nhã và phẩn hận của kẻ khác. Thế nhưng, tâu đức quyền uy, cái chiến thắng ấy, ngài mang theo trên người được bao lâu? Mấy trăm năm? Mấy ngàn năm?

- Đâu nhiều vậy, đức vua ngạc nhiên nói – Ít nhất là đến lúc ta còn cầm cương ngựa được!

- “Đâu nhiều vậy, đến lúc ta còn cầm cương ngựa được”. Tự miệng đức vua nói thế chứ. “Đâu nhiều vậy đến lúc ta còn cầm cương ngựa được”. Nghĩa là chiến thắng ấy có giới hạn, không trọn vẹn và không vĩnh cửu!

Đức vua chợt “à” lên một tiếng, đôi mắt lóe lên vừa ngạc nhiên vừa lạ lùng. Người nông dân lại tiếp:

- Và còn nữa, thưa đấng quyền uy! Sự hùng mạnh của đức vua sẽ không còn bao lâu nữa. Vì tự miệng đức vua đã nói ra, khi ta còn cầm cương ngựa được. Như vậy sẽ đến một lúc, điều đó sẽ xảy ra. Và đoàn quân bách chiến vô địch sẽ không phải là bách chiến vô địch mãi!

Đức vua Suvera không nói gì. Sao lạ? Đức vua tự nghĩ, hắn nói cũng có phần đúng đấy chứ, có ai là kẻ chiến thắng một trăm năm, ngàn năm? Già yếu, sự chết, ồ!

- Cha mẹ, chồng con những người đã chết, dòng họ những dân tộc chiến bại sẽ đợi đến lúc đức vua không còn cầm cương ngựa được, quân binh đức vua suy yếu, họ sẽ liên kết lại, vùng lên, một trăm lẻ một quốc độ sẽ tràn vào một lượt như cơn bão lửa. Và thưa đức vua, họ sẽ rần rộ, ào ào, như lốc cuốn tấn công vây chặt thành trì của đức vua đến nỗi môt con kiến cũng không thể thoát được. Và như vây, thưa đức vua, khi ấy đức vua có còn hùng dũng hô to: “Ta đã chiến thắng” nữa không?

Cứ để cho đức vua thảng thốt, bàng hoàng, người nông dân đứng dậy, buông từng tiếng một:

- Chiến thắng ít chục năm ấy là chiến thắng giới hạn. Chiến thắng mà không mang theo được từ đời này qua kiếp kia, ấy là chiến thắng phù du. Chiến thắng mà có lúc sẽ chiến bại, vậy mà đức vua dám nói mình là kẻ được quyền hùng dũng hô to: “Ta đã chiến thắng!”

Đức vua Suvera đứng bất động nhìn đăm đăm về phía sông Rohini. Lâu lắm, đức vua quay lại lắp bắp:

- Ta... ta...

Đức vua không nói được, lấy khăn lau mồ hôi, thở ra một hơi dài rồi nói:

- Thế thì ngươi mới là kẻ chiến thắng thật sự? Đời đời? Và trọn vẹn ư?

- Phải rồi. Không những chỉ có ta mà còn những bậc tối thượng hơn thế nữa. Đó là Đức Tôn Sư của ta, các vị Thánh đệ tử, các vị Sa-môn sống đời thoát tục. Chỉ có những vị ấy mới dám hùng dũng hô to: “Ta đã chiến thắng”.

“Điều mới lạ này ta chưa hề được nghe qua. Kẻ nào vậy? Những cái gọi là Đức Tôn Sư, Thánh đệ tử và những Sa-môn, họ là những ai vậy?” Nghĩ thế, đức vua nói:

- Chưa kể đến cái gọi là Đức Tôn Sư, Thánh đệ tử vội, ta chỉ hỏi ngươi, ngươi chiến thắng như thế nào? Tuần tự kể ta nghe.

Người nông dân kể:

- Một thời, với cái cuốc mẻ và hạt giống, ta trồng một thửa ruộng, lúa lên xanh, hạt chín vàng, thế nhưng ta vẫn không đủ no, áo vẫn không đủ mặc. Hôm kia, ta thấy một sa môn khất thực – với chiếc y vàng trang nghiêm, chói sáng, y đi từ nhà này sang nhà kia. Ta thấy nào bánh, cơm, thục tô, đề hồ, sữa lần lượt được người ta bỏ vào bát bằng hai tay chắp lại. Ta nhìn cái cuốc mẻ, tự nghĩ: “Hãy chiến thắng cái cuốc”. Thế là ta quẳng cái cuốc mẻ vào trong xó nhà và đi theo đoàn sa môn. Ta cũng mặc y vàng, được ăn no, nhưng ta vẫn nhớ cái cuốc mẻ. Nhớ không chịu được, ta bèn cởi y, bỏ bát, vội chạy về xó nhà lấy cái cuốc ra. Ta sung sướng cuốc đất, trỉa hạt giống. Ôi! Thế là ta đã không chiến thắng được cái cuốc mà cái cuốc lại chiến thắng ta! Lúa lại lên xanh, lúa lại chín vàng. Nhưng cơm vẫn không đủ no, áo vẫn không đủ mặc, ta không được an lạc! “Hãy chiến thắng cái cuốc! Hãy chiến thắng cái cuốc!” Lần thứ hai, ta nghĩ. Nếu ngươi không chiến thắng cái cuốc ngươi sẽ cơ hàn. Do sự cơ hàn, ngươi sẽ không an lạc. Lần này cái cuốc lại được ta quẳng sau nương rồi đi theo đoàn sa môn. Hàng ngày sau khi khất thực xong, ta ngồi thiền định, cái cuốc lại hiện ra. Ôi! Cái cuốc thân yêu. Ta nhớ cái cuốc quá, nhớ không chịu được, ta bèn bỏ y bát, chạy về nương lấy cái cuốc, ta lại sung sướng cuốc đất, trỉa hạt giống. Ôi, thế là ta bị chiến bại một lần nữa. Hai lần chiến bại phải thế không đại vương?

- Phải rồi, đức vua gật, ngươi đã không chiến thắng.

Người nông dân đi tới đi lui.

- Đức vua nói đúng xiết bao. Ta đã không chiến thắng, ta, hai lần chiến bại. Mà không những thế đâu, nó lại đánh bại ta liên tiếp, trận này qua trận khác. Lần thứ ba, ta quẳng ở xó vườn, lần thứ tư quẳng dưới ao, trong bùn, lần thứ năm ta chôn dưới cội cây. Ta liên tiếp bị đánh bại sáu lần một cách nhục nhã.

Người nông dân nói thế xong, im lặng đột ngột.

Đức vua Suvera hỏi:

- Ngươi chưa nói rõ lý do và trường hợp chiến thắng?

- Ta sẽ nói, tâu đức vua. Lần thứ bảy, ta tự nghĩ: Ta chiến bại vì ta còn thấy cái cuốc, còn tìm ra cái cuốc. Vậy thì ta làm sao cho cái cuốc mất tích. Thế rồi, sáng nay, ta đang đứng tại bờ sông Rohini, định quăng cái cuốc xuống sông. Nhưng mỗi lần định quăng, ta cứ chùn tay lại. Ta đăm đăm nhìn cái cuốc. Ta không nỡ. Hồi lâu, ta bặm môi lại, định quăng, nhưng lại thối lui. Ta thương yêu cái cuốc quá đi. Sau rốt, một ý chí bốc lên bừng bừng mãnh liệt, ta nhắm mắt lại, xoay người ba vòng, lấy hết sức mình, ta quăng cái cuốc đi. Khi mở mắt ra, ta không còn nhìn thấy cái cuốc ở phương nào nữa. Dẫu có muốn tìm thì cũng chẳng biết đâu mà tìm. Sung sướng quá, một niềm hỷ lạc dâng lên no đầy cả tâm hồn, muốn bay bổng lên cả mấy từng trời. Ta hét to như tiếng sấm nổ tận thế: “Ta đã chiến thắng, ta đã chiến thắng.”

Đến ngang đây, người nông dân quay qua đức vua:

- Như vậy thì trường hợp này, ta có thể hùng dũng hô to: “Ta đã chiến thắng”?

- Có thể được - đức vua gật.

Người nông dân mỉm cười:

- Chỉ ngay cái chiến thắng ấy cũng đã tối thượng mười sáu lần hơn chiến thắng của đức vua rồi. Huống hồ ta còn cái chiến thắng khác.

- Ngươi hãy nói cái chiến thắng khác đi, vì chiến thắng kia tầm thường xiết bao. “Chiến thắng cái cuốc”, ngươi nói vậy mà không hổ thẹn ư?

- Đức vua tưởng thế! Chiến thắng kia không tầm thường chút nào!

- Hãy nói ta nghe.

- Dạ vâng, ta sẽ nói. Trước khi nói ta xin được hỏi: Đức vua yêu cái gì nhất?

Đức vua Suvera ngần ngừ giây lát. Tự nghĩ, ồ, ta yêu cái gì nhất nhỉ: Hoàng hậu? Cung nga thể nữ? Châu báu trần gian? Ồ, ta có yêu, nhưng yêu ít thôi, không thể gọi là yêu nhất được. Quyền uy, phải rồi. Quyền uy...

Đức vua nói:

- Ta yêu quyền uy nhất.

Người nông dân mỉm cười:

-Đức vua thì yêu quyền uy nhất, còn ta là người nông dân, ta yêu cái cuốc nhất. Tâu đức vua, nhưng ta đã dám quẳng cái ta yêu nhất, ấy là cái cuốc; còn đức vua có dám quẳng cái đức vua yêu nhất, là cái “quyền uy”? Được chăng? Đức vua đã từng bao giờ quẳng cái quyền uy trong xó nhà? Ngoài nương? Cuối vườn? Dưới ao? Ngoài nghĩa địa? Dưới cội cây? Dưới sông? Cả thảy 7 lần như thế chưa?

Đức vua Suvera bối rối:

- Ta... ta... chưa hề nghĩ tới.

Người nông dân cười to nhưng vẫn dịu dàng:

- Vậy thì rõ ràng ở phương diện này thôi, đức vua đã thua ta rồi!

Càng lúc càng thấy nhiều điều mới lạ. Đức vua thấy thú vị trong câu chuyện với người nông dân, nên mỉm cười:

- Thôi được. Ta cho ngươi được phép hơn ta. Nhưng mà “chiến thắng cái cuốc”. Ôi sao mà nghe nó kỳ thế?

- Không kỳ đâu – người nông dân trang nghiêm – Nhờ quẳng cái “mình yêu nhất”, ta chợt bừng lên một ánh sáng. Nhờ ánh sáng này, ta thấy rõ một điều kỳ diệu…

- Ngươi cứ nói – Đức vua hối hả, tò mò – Cái gì kỳ diệu?

- Cái kỳ diệu ấy có thể chưa cần nói cho đức vua hay. Nhưng rõ ràng sau khi thấy điều kỳ diệu, không những ta hô: “Ta đã chiến thắng” mà còn hơn thế nữa, ta hô to: “Ta vĩnh viễn chiến thắng”!

Đức vua cau mày:

- Vĩnh viễn?

- Phải rồi – Người nông dân nhìn chăm vào đức vua – này tâu Đại vương! Đại vương là kẻ chiến thắng giới hạn, tạm thời, phù du, chiến thắng rồi phải bại. Còn ta là kẻ chiến thắng vô hạn, vượt không gian, vượt thời gian, vĩnh viễn chẳng bao giờ chiến bại nữa. Vậy thì đại vương còn dám hô: “Ta đã chiến thắng” trước mặt ta?

- Ta không cần biết điều ấy – Đức vua nói như gắt – Ta chỉ cần biết cái gì là vĩnh viễn, cái không còn chiến bại, cái vượt không thời gian!

- Kẻ đã chiến thắng, vĩnh viễn chiến thắng sự chết, khổ đau – là kẻ chiến thắng trọn vẹn, vượt không, thời gian, tâu đại vương!

Đức vua Suvera nín lặng. Mồ hôi toát ra, đứng bất động như trụ đá giữa trời. Lâu lắm đức vua lẩm bẩm: “Dẫu ta có chiến thắng cả ngàn quốc độ, chiến thắng quả địa cầu, chiến thắng thiên giới thì khổ đau và sự chết vẫn đánh bại ta. Thế mà người nông dân này lại đánh bại được khổ đau và sự chết!”

Đức vua thốt lên, vừa hân hoan vừa cảm phục:

- Thật là Bậc Đại Chiến Thắng!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/05/2015(Xem: 5533)
Khi tôi gặp Thầy lần đầu tiên, tôi thật sự là một kẻ phàm phu tục tử có đầy đủ tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, đã chẳng tu mà chỉ biết hú là giỏi. Mặc dù tôi được sinh ra từ một gia đình có tiếng là theo đạo Phật lâu đời, nhưng từ khi có sự hiểu biết, tôi thấy bà và mẹ chỉ đi chùa mỗi năm vài lần vào dịp lễ lớn, cũng lạy Phật, thắp hương, khấn vái sì sụp gì đó rồi… hết. Còn tôi thì sao, tôi bị sinh ra vào những năm sau cuộc chiến, tưởng là hòa bình lập lại thì dân giàu nước mạnh, tôn giáo được tự do phát triển không ngờ mọi việc hoàn toàn ngược lại, ăn còn không đủ no nói gì đến việc đi chùa nghe Pháp, đọc kinh. Tóm lại tôi hoàn toàn mù tịt về Phật Pháp.
02/05/2015(Xem: 6768)
Tôi gặp nàng tại Đại nhạc hội Việt Nam tổ chức tại Düsseldorf vào một mùa Giáng Sinh xa xưa nhưng không bao giờ quên được dù nàng lúc đó lẫn lộn giữa rừng người đông đảo. Nàng không xinh đẹp tuyệt trần, không ăn mặt lòe loẹt nổi bật, cũng không hoạt bát ồn ào gây sự chú ý của mọi người. Nhưng đối với tôi thì nàng thật đặc biệt với dáng vẻ đoan trang thùy mỵ, với đôi mắt dịu dàng và với sự im lặng của nàng trong một góc vắng của hội trường. Nàng đứng đó, tay cầm một cuốn sách nhỏ, vừa đọc vừa... gặm bánh mì, thỉnh thoảng lại ngước mắt lên nhìn xung quanh coi có gì “lạ” không rồi lại cắm đầu vào cuốn sách, cứ y như trong đó có chỉ chỗ giấu kho vàng vậy!
01/05/2015(Xem: 19227)
Được làm con Phật là điều vừa đơn giản, vừa hy hữu. Đơn giản, vì sinh ra trong một gia đình Phật giáo thì tự động theo cha mẹ đi chùa, lễ Phật, tin Phật ngay từ bé. Hy hữu, vì biết lấy Phật giáo làm lý tưởng đời mình và chọn sự thực hành Phật Pháp như là sinh hoạt nền tảng hàng ngày—không phải ai sinh ra trong gia đình đó cũng đều tin Phật từ nhỏ đến lớn, và nếu tin Phật, cũng không gì bảo đảm là hiểu Phật, thực hành đúng đắn con đường của Phật để gọi là con Phật chân chính.
23/04/2015(Xem: 4441)
Năm nay 2015 tôi có đến ba mùa Xuân. Đó là mùa Xuân của nước Đức, mùa Xuân của nước Nhật và mùa Xuân của Hoa Kỳ. Thông thường mùa Xuân bắt đầu vào cuối tháng 3 dương lịch và kéo dài ba tháng như vậy, để thuận với lẽ tuần hoàn của vạn hữu là Xuân, Hạ, Thu, Đông; nhưng cũng có nhiều nơi mỗi năm chỉ có hai mùa như quê tôi Việt Nam, là mùa mưa và mùa nắng. Trong khi đó Âu Châu, nhất là vùng Bắc Âu, mỗi năm cũng chỉ có hai mùa. Đó là mùa lạnh kéo dài nhiều khi đến 6 hay 7 tháng và mùa ấm chỉ có chừng 3 đến 4 tháng là cùng. Dĩ nhiên là sẽ không có mùa Hè và trời vào Thu lại nhanh lắm, để đón tiếp một mùa Đông băng giá lạnh lùng.
15/04/2015(Xem: 15471)
Một sớm mai nọ, tôi không nhớ ngày ta, ngày tây, chỉ nhớ đầu năm 1984. Buổi sáng hôm ấy đầy dáng Xuân cả đất trời Nam Hà, khi tôi và hằng trăm tù nhân chính trị trên đường đến hiện trường lao động ở dải đất dài, mà hai bên toàn là núi đá vôi cao, thấp trùng trùng, điệp điệp. Người địa phương Ba Sao gọi là THUNG.
31/03/2015(Xem: 25286)
Dianne Perry, (sau này được biết đến qua pháp danh Tây Tạng của cô là Tenzin Palmo) là một vị ni cô người Anh đầu tiên, đã ẩn cư thiền định suốt 12 năm trong một hang động cao 12.300 bộ trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, cách ngăn khỏi thế giới trần tục bởi những rặng núi phủ đầy tuyết trắng quanh năm. Tenzin Palmo đã sống một mình và tu tập trong động tuyết này. Cô đã chạm trán với những thú rừng hoang dã, đã vượt qua những cơn lạnh khủng khiếp, những cái đói giết người, và những trận bão tuyết kinh hồn; cô tự trồng lấy thực phẩm và ngủ ngồi trong cái hộp gỗ rộng cỡ 3 bộ vuông (theo truyền thống Tây Tạng, các vị tu sĩ đều tọa thiền trong một cái hộp gỗ như vậy). Cô không bao giò ngủ nằm. Mục đích của Tenzin Palmo là chứng đạo trong hình tướng một người nữ.
18/03/2015(Xem: 8095)
Tôi sinh ra ở miền sông nước Nam Bộ của xứ Việt. Nhưng thật lạ, phải gần nửa đời tôi mới bắt đầu nhận ra mình vốn yêu sông nước. Tôi yêu quê từ những miền đất lạ mà mình đi qua, và tệ nhất khi đôi lúc chỉ là những nơi chốn xa ngái mịt mù chỉ nhìn thấy trong sách vở, phim ảnh. Và kỳ chưa, đó cũng là cách tôi yêu đạo Phật. Ăn cơm chùa từ bé, nhưng phải đợi đến những giây khắc nghiệt ngã, khốc liệt nhất bình sinh, tôi mới nhìn thấy được rõ ràng nụ cười vô lượng của đức Phật bất chợt hiện lên đâu đó cuối trời thống lụy.
05/03/2015(Xem: 4770)
Có những kỷ niệm tưởng rằng sẽ mờ nhạt theo tháng ngày tất tả, trôi xuôi đến tận cùng triền dốc của cơm áo xứ người. Nhưng không, mỗi khi trời đất đổi mùa thì lòng người lại bâng khuâng, ký ức lại hiện về rõ nét, dù đó là một khoảng thời gian đã qua, một ký ức đã xa... Chỉ còn lại trong tim nhưng cũng đủ xót xa lòng khi nhớ đến! Hình ảnh bà cụ già nua ốm yếu, ngồi cô đơn trong căn chòi tranh rách nát, vào một buổi chiều âm u buồn thảm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi, nhớ đến là bồi hồi xao xuyến cả tâm can. Buổi chiều ở Đồng tháp Mười buồn quá sức, buồn đến não nuột xót xa, một chòi tranh nằm chơ vơ bên con lạch nước đục ngầu, không người qua lại, xung quanh chỉ có tiếng ếch nhái than van!
07/02/2015(Xem: 6292)
Một trong tôn giáo cổ xưa Có thầy tu nọ rất ưa tế thần Tuy ông nổi tiếng xa gần Nhưng mà mê muội tâm thần nhiều thay. Một hôm ông chọn dê này Cho rằng thích hợp, giết ngay tế thần Nghĩ suy lầm lạc vô ngần:
25/01/2015(Xem: 10024)
Tác phẩm Một Đóa Sen, được diễn nói về vận hành tầm sư học đạo của Sư bà Thích Nữ Diệu Từ, thật là gian truân trăm bề, được thấy từ khi mới vào “Thiền Môn Ni Tự” ở các cấp Khu Ô Sa Di, Hình Đồng Sa Di, ứng Pháp Sa Di và Tỳ Kheo Ni ở tuổi thanh niên mười (10) hạ lạp rồi, mà vẫn còn gian nan trên bước đường hành hoạt đạo Pháp. Nhưng Sư bà vẫn định tâm, nhẫn nhục , tinh tấn Ba la mật mà tiến bước lên ngôi vị Tăng Tài PGVN ở hai lãnh vực văn hóa quốc gia và Phật Giáo Việt Nam một cách khoa bảng. Nếu không nói rằng; tác phẩm “Một Đóa Sen và Pháp thân” của Sư bà Diệu Từ, là cái gương soi cho giới Ni PGVN VN hiện tại và hậu lai noi theo…