19. Hồ Ly Mót Vàng

29/11/201115:17(Xem: 6114)
19. Hồ Ly Mót Vàng
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(19)

HỒ LY MÓT VÀNG

Ở bên sườn núi thuở xưa

Có ngôi chùa nhỏ với sư rất già

Lông mày sư tựa tuyết pha

Chòm râu cước trắng mượt mà đẹp thay,

Chùa nghèo, mọi việc hàng ngày

Dù cho nặng nhọc một tay sư làm

Tuy già còn khỏe vô vàn

Một mình tu chốn non ngàn ung dung

Dân làng cư ngụ quanh vùng

Thấy sư cực khổ đều cùng quan tâm

Muốn lên chùa giúp đôi phần

Nhưng sư từ chối chẳng cần giúp chi.

Bà con thắc mắc chuyện gì

Có điều chưa hiểu tức thì nhờ sư

Sư già mở rộng tâm từ

Hết lòng chỉ dẫn dân cư tận tình

Đôi khi còn giảng thêm kinh

Hướng lời Phật dạy chúng sinh theo đường

Mọi người cung kính tôn sùng

Thường đem thực phẩm cúng dường tạ ơn.

*

Một năm gió giật từng cơn

Đông về lạnh buốt, tuyết vờn trắng phau

Cảnh chùa băng giá trước sau

Sư đang tụng niệm chợt đâu giật mình

Có ai gõ cửa thình lình

Sư già mở cửa quả tình ngạc nhiên

Chú hồ ly đứng ngoài hiên

Đang run lẩy bẩy giữa miền tuyết sương

Sư già hỏi giọng thân thương:

"Đêm hôm buốt giá tới xương thế này

Con làm chi lại tới đây?"

Hồ ly quỳ vội xuống ngay thưa rằng;

"Mùa đông lạnh lẽo giá băng

Con đâu sống nổi trong hang đêm này

Xin thầy thương tấm thân gầy

Cho con tạm trú đến ngày mai thôi! "

Từ bi sư nói: "Được rồi

Hãy vào sưởi ấm ta thời tiếc chi!"

Sư mang củi nhóm lửa khuya

Lấy cơm cho chú hồ ly lót lòng.

Ăn no rồi, sưởi ấm xong

Hồ ly say ngủ vui trong mộng vàng

Hôm sau từ biệt về hang.

Hồ ly từ đó thường thường trở lui

Sư già cho phép vậy rồi:

"Nếu cần sưởi ấm con thời ghé đây!"

Hồ ly hầu chuyện cùng thầy

Dần dà học được điều hay, điều lành

Tâm tư chuyển biến thật nhanh,

Nhiều lần chặt củi lượm cành biếu sư.

*

Đông tàn, trời đất sang mùa

Chim rừng ríu rít thi đua hót mừng

Đón xuân vạn vật tưng bừng

Thiên nhiên khởi sắc quanh vùng tốt tươi,

Một hôm trong lúc chuyện vui

Sư già bất giác thốt lời thở than:

"Chùa đây nhỏ bé nghèo nàn

Hư hao, cũ nát rất cần sửa sang

Cần tô lại tượng Phật vàng,

Cần tiền thết đãi dân làng bữa chay

Tri ân họ giúp lâu nay,

Kiếm vàng làm được chuyện này dễ đâu!"

Sư vui bàn chuyện đôi câu

Hồ ly bất chợt cúi đầu trầm ngâm

Khiến sư hối hận vô ngần

Lảng qua chuyện khác. Trời dần về đêm

Hồ ly từ biệt đi liền

Hẹn ngày trở lại chuyện thêm hầu thầy.

*

Thế rồi cả nửa năm nay

Hồ ly nào có thấy quay trở về

Sư già lo sợ mọi bề

Sợ hồ ly dại mà đi trộm vàng

Thời người bắt đánh trong làng

Chắc giờ bỏ mạng thảm thương mất rồi,

Sư lòng lo nghĩ rối bời

Sớm chiều hai buổi sư ngồi tụng kinh

Mong hồ ly được ơn lành

Đời sau thoát kiếp súc sinh, làm người.

Thời gian như nước cuốn trôi

Hơn ba năm đã qua rồi! Thật nhanh!

Một đêm mùa hạ trời thanh

Trăng vàng lơ lửng đầu cành trên cao

Ánh trăng tỏa dịu thanh tao

Côn trùng vẳng tiếng vọng vào xa xăm

Sư buồn ngủ toan đi nằm

Chợt nghe gõ cửa vô vàn ngạc nhiên

Sư bèn ra mở cửa liền

Tưởng rằng khách lạ ghé miền núi cao

Nào ngờ hồ ly bước vào

Sư già mừng rỡ đón chào "bạn" xưa

Lòng vui biết mấy cho vừa

Từ lâu cách biệt đã thừa lo âu

Giờ đây trút hết muộn sầu

Biết hồ ly sống, có đâu lìa trần.

Hồ ly hoan hỷ vô ngần

Gặp sư vội vã quỳ dâng cúng dường

Dâng lên sư một thỏi vàng

Sư già kinh ngạc ngỡ ngàng hỏi ngay:

"Vàng này lấy ở đâu đây?

Con đừng mang đến chùa này của gian!"

Hồ ly điềm tĩnh phân trần:

"Hơn ba năm trước có lần tại đây

Thầy từng than thở cho hay

Cần vàng sửa chữa chùa này đấy thôi

Khiến lòng đệ tử rối bời

Muốn đi lấy trộm của người về đây

Rồi đem dâng cúng chùa ngay

Nhưng con tự biết rằng thầy chẳng ưng

Nên con vội vã tìm đường

Theo người vượt biển kiếm vàng đảo xa,

Người ta khai mỏ vàng ra

Lấy xong, còn vụn thật là nhỏ nhoi

Lẫn vào đất cát biển khơi

Con theo mót lượm khắp nơi bao ngày

Luôn ba năm được chút đây

Đốt cho vàng chảy thành ngay thỏi này

Đem về dâng cúng bữa nay

Lòng thành, mong ước được thầy nhận cho

Dùng tô tượng, dùng sửa chùa

Đãi cơm phật tử đúng như dự trù.

Sư già cảm động bất ngờ

Nên mừng ứa lệ dâng mờ đôi mi,

Không mừng vì được vàng kia,

Nhưng mừng vì thấy hồ ly tu hành

Có lòng tin, có tâm thành

Bên trong lốt thú đạo tình chứa chan.

(phỏng theo bản văn xuôi của PHẠM NGỌC KHUÊ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/10/2014(Xem: 6202)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 5368)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5542)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 7771)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6626)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 5732)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 38152)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 32795)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
17/08/2014(Xem: 29638)
Nhân quả là định luật căn bản xuyên suốt quá trình thành trụ hoại diệt của tất cả chúng sinh từ đời này sang đời khác, cho đến vũ trụ, vạn vật cũng không phải tuần hành, biến dịch một cách ngẫu nhiên, vô lí, mà luôn tuân theo định luật nhân quả. Định luật này không do một đấng thần linh nào, xã hội nào đặt ra cả, mà là luật tự nhiên, âm thầm, lặng lẽ, nhưng luôn đúng đắn, chính xác, hiệu quả vô cùng.
17/08/2014(Xem: 35432)
Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm bình thường là đạo.” Chư vị Tổ sư dùng đến vô số phương tiện cũng không ngoài việc dẫn dắt người học đạt đến tâm bình thường này. Vì thế, thiền không phải là một lãnh vực siêu nhiên vượt ngoài phạm trù ý thức thông thường như nhiều người lầm tưởng, mà trái lại chính là sự soi rọi, chiếu sáng những trạng thái tâm thức hết sức bình thường mà mỗi người chúng ta đều đã và đang trải qua trong cuộc sống thường ngày.