07. Gần Phật và xa Phật

29/11/201115:17(Xem: 6395)
07. Gần Phật và xa Phật
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(7)

buddha-535

Gần Phật và xa Phật

Ở trong tịnh xá Kỳ Hoàn

Nơi thành Xá Vệ hương ngàn thênh thang

Cỏ cây rực rỡ ánh vàng

Phật ngồi thuyết pháp cho hàng Chư Thiên.

*

Bấy giờ ở nước kế bên

Hai Thầy tu nọ lòng riêng ước thầm

Mong sao gặp Phật một lần,

Rủ nhau đi, chẳng ngại ngần đường xa.

Vượt vùng đồng đất bao la

Giữa nơi biên giới không nhà dân gian,

Nơi đây hạn hán quanh năm

Xác xơ đồng ruộng, khô cằn hồ ao

Hai người vất vả biết bao

Khát khô cả cổ. Nước nào tìm ra!

Đi hồi lâu thấy xa xa

Vũng lầy có nước. Nhưng mà khổ thay

Đầy trùng lúc nhúc trong đây

Uống vào uống cả trùng này mất thôi

Thế là phạm giới luật rồi,

Một người vội vã thốt lời can ngăn:

"Hãy theo lời Phật khuyên răn

Nhân từ làm gốc, giữ tâm trong lành

Nếu ta giết hại chúng sanh

Để mình tranh sống, cũng thành uổng đi

Dù sau thấy Phật ích gì

Hãy nên giữ giới. Sá chi thân mình!"

*

Người kia suy nghĩ, làm thinh

Rồi lên tiếng nói: "Khát đành chết sao?

Tạm thời hãy uống nước vào

Sống mà gặp Phật! Còn bao dặm đường!

Quanh đây vắng khách thập phương

Nào ai thấy được mà vương bận lòng!".

*

Hai người, hai ý bất đồng;

Người không giữ giới uống xong đi liền

Riêng mình mạng sống tạm yên

Lên đường tìm Phật nơi miền xa xôi.

Người kia Phật dạy, nhớ lời

Quanh năm giữ giới, suốt đời tu tâm

Giờ tuy chết khát chẳng cần,

Trên đường tìm Phật tiến gần biết bao

Cõi trời Đao Lợi sanh vào

Vội tìm lễ Phật. Đứng hầu một bên.

*

Còn người phá giới bình yên

Tới thành Xá Vệ, quỳ bên Phật Đài

Sụt sùi giọt ngắn giọt dài

Cúi đầu bạch Phật: "Lúc ngoài đồng hoang

Con còn người bạn chung đường

Thiết tha tìm Phật tâm thường hằng mong

Chẳng may khát nước mệnh chung

Tiếc rằng không được đến cùng Thế Tôn!"

*

Phật bèn dạy, giọng ôn tồn:

"Ta hay biết chuyện mà con nói rồi!"

Chỉ người đứng cạnh bên Ngài

Phật thêm: "Đây chính là người bạn con

Một lòng giữ giới cho tròn

Sau khi mãn kiếp lên luôn cõi Trời

Đủ duyên đến với ta thôi;

Còn con tuy đã tới nơi chốn này

Cũng là uổng phí công thay

Vì con phạm giới vừa đây trên đường!

Vẫn là xa cách ngàn trùng

Gặp ta thật đấy mà dường như không

Giới điều còn, Phật pháp còn

Giữ nghiêm giới luật: ghi lòng khắc tâm!"

*

Thày tu phạm giới thẹn thầm

Cúi đầu nghĩ lại lỗi lầm vừa qua

Trong lòng sám hối thiết tha:

"Muốn gần Đức Phật, chớ xa Giới Điều!".

(phỏng theo bản văn xuôi

của Minh Châu)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/10/2014(Xem: 6201)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 5366)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5541)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 7764)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6626)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 5730)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 38150)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 32793)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
17/08/2014(Xem: 29635)
Nhân quả là định luật căn bản xuyên suốt quá trình thành trụ hoại diệt của tất cả chúng sinh từ đời này sang đời khác, cho đến vũ trụ, vạn vật cũng không phải tuần hành, biến dịch một cách ngẫu nhiên, vô lí, mà luôn tuân theo định luật nhân quả. Định luật này không do một đấng thần linh nào, xã hội nào đặt ra cả, mà là luật tự nhiên, âm thầm, lặng lẽ, nhưng luôn đúng đắn, chính xác, hiệu quả vô cùng.
17/08/2014(Xem: 35413)
Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm bình thường là đạo.” Chư vị Tổ sư dùng đến vô số phương tiện cũng không ngoài việc dẫn dắt người học đạt đến tâm bình thường này. Vì thế, thiền không phải là một lãnh vực siêu nhiên vượt ngoài phạm trù ý thức thông thường như nhiều người lầm tưởng, mà trái lại chính là sự soi rọi, chiếu sáng những trạng thái tâm thức hết sức bình thường mà mỗi người chúng ta đều đã và đang trải qua trong cuộc sống thường ngày.