23. Cây Táo Thiết Sơn

29/11/201115:17(Xem: 6932)
23. Cây Táo Thiết Sơn
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(23)

Cây Táo Thiết Sơn

Thiết Sơn núi thẳm xa xưa

Có cây táo nọ rất ư lâu đời

Thân to, tán lá rợp trời

Chưa hề có quả, tứ thời cành trơ.

*

Gần chân núi có tiều phu

Tên là Chí Hiếu, ốm o, thân gầy

Chuyên nghề lên núi lượm cây

Mang về làm củi, bán ngày kiếm ăn

Quanh năm sinh sống khó khăn

Một mình nuôi Mẹ nhọc nhằn sớm trưa.

Mẹ chàng bệnh hoạn, già nua,

Thuốc thang nào có tiền mua vì nghèo

Dần dần bệnh nặng thêm nhiều

Trở thành tê bại Mẹ yêu liệt giường,

Chàng buồn số phận đau thương

Thở dài, than ngắn mãi vương muộn phiền.

*

Một đêm hầu cạnh Mẹ hiền

Mẹ đà an giấc. Ngoài hiên sáng trời

Chàng bèn nhẹ bước ra chơi

Say sưa ngắm ánh trăng nơi đầu ghềnh,

Núi rừng sương phủ bồng bềnh

Ðọng trên ngọn cỏ, đầu cành như hoa

Như muôn ngàn ánh sao sa

Long lanh suối vắng, thướt tha đêm trường.

*

Tiều phu đang phút mơ màng

Chợt đâu trước mặt hào quang sáng lòa

Một tiên ông bỗng hiện ra

Chòm râu trắng bạc, nước da hồng hào

Dáng uy nghi, vẻ thanh cao

Phất phơ áo trắng, gậy đào cầm tay.

Tiều phu phách lạc, hồn bay

Tiên ông khẽ nói: "Ta đây! An lòng!

Ta là Hòa Thượng trên non

Ở ngay trong dãy Thiết Sơn lâu rồi

Vì con hiếu thảo ở đời

Cho nên động tới đất trời linh thiêng

Hôm nay hội đủ cơ duyên

Ta về chữa bệnh Mẹ hiền giúp con!".

Tiều phu mừng rỡ trong lòng

Vội quỳ bái tạ vô cùng trang nghiêm.

*

Xua tay, Hòa Thượng nói thêm:

"Con mau sửa soạn leo lên núi này

Tìm cây táo quý lâu ngày

Hái ngay một trái về đây cứu người

Dâng lên cho Mẹ con sơi

Mẹ dù bệnh nặng ăn thời khỏi luôn!".

*

Tiều phu nghe lệnh phân vân

Xưa nay cây táo xa gần đều hay

Chưa hề có quả một ngày

Lấy chi để hái? Lệnh này trớ trêu!

Nhưng Hòa Thượng nói: " Làm theo

Ðúng lời ta dặn chớ nhiều nghĩ suy!

Hãy lên hái táo ngay đi

Giờ cây có trái cũng vì cảm thông

Thương con hiếu đễ một lòng

Bà con quý mến khắp vùng Thiết Sơn!"

Tiều phu sụp lạy tạ ơn

Ngẩng lên Hòa Thượng biến luôn mất rồi.

*

Suốt đêm trằn trọc mãi thôi

Tiều phu lên núi khi trời hừng đông

Sương lam còn phủ mênh mông

Rừng hoang, núi vắng chập chùng êm ru

Chỉ riêng dòng thác vô tư

Rì rào khe núi vọng đưa khúc tình

Như chờ đón ánh bình minh

Dịu dàng soi tỏ tâm linh con người.

*

Thân vất vả, lòng an vui

Cỏ cây rậm rạp, núi đồi cheo leo

Tiều phu cương quyết cố trèo

Ðầu non vừa tới, nắng theo ngang đầu

Ngẩng nhìn cành táo trên cao

Thấy ngay một quả. Xiết bao lạ lùng,

Chàng reo lên rất vui mừng

"Tạ ơn Hòa Thượng mở đường cứu con!".

Táo thần bỗng hiện nhiều hơn

Quả to, chín đỏ như son trĩu cành

Chàng leo lên hái thật nhanh

Mê mờ che lấp biến thành máu tham

Hái nhiều đầy ắp một làn

Nhét thêm đầy túi mới mang về nhà.

*

Ðầu đuôi kể lại Mẹ già

Tiều phu dâng táo mời bà Mẹ sơi

Ngạc nhiên Mẹ đến nghẹn lời

Chắp hai tay lại vái trời trên cao

Miệng luôn niệm Phật thì thào

Tạ ơn trời, Phật dạt dào lòng nhân

Tạ ơn Hòa Thượng vô ngần

Mẹ ăn táo quý lòng thầm sướng vui.

Táo thần thật quả lạ đời

Mẹ ăn xong táo bệnh thời khỏi luôn

Ðôi chân cử động bình thường

Chẳng còn tê bại liệt giường như xưa

Bước lần theo cánh liếp thưa

Lâm râm khấn nguyện ơn vừa được ban.

*

Tin đồn phép lạ truyền lan

Bà con kéo đến rộn ràng khắp nơi

Nhờ tay Chí Hiếu giúp đời

Kẻ thời bệnh nặng. Người thời kinh niên

Tiều phu chia táo giúp liền

Táo thần như có phép tiên chữa lành.

*

Tháng ngày lần lượt trôi nhanh

Tiều phu chợt nghĩ công mình khó khăn

Lên non hái táo nhọc nhằn

Nên đòi con bệnh trả phần tiền công.

Bạc tiền theo táo chất chồng

Lòng tham theo bạc càng nồng hơi tanh!

Tiền công ngày một tăng nhanh

Thẳng tay vơ vét mau thành phú ông

Màng chi con bệnh tay không

Bạc tiền nếu thiếu đừng mong cậy nhờ!

*

Thời gian thấm thoắt thoi đưa

Tiều phu Chí Hiếu xác xơ thuở nào

Giờ đây rạng mặt phú hào

Khắp vùng nổi tiếng sang giàu nhất thôi,

Lâu đài tráng lệ tuyệt vời

Quân hầu, xe ngựa cuộc đời lên hương.

*

Một hôm có gái đáng thương

Phương xa lặn lội tìm đường ghé sang

Khẩn cầu mắt lệ dâng tràn

Nàng cần táo quý xin chàng giúp cho

Mẹ nàng hấp hối nằm chờ

Trên giường tử biệt mong nhờ táo tiên!

Ngặt vì nàng chẳng có tiền

Phú ông Chí Hiếu đuổi liền thẳng tay,

Gái nghèo van khóc tội thay

"Không tiền không táo!". Ðành quay trở về.

*

Ðêm hôm đó dưới trăng thề

Một trời vằng vặc, bốn bề nên thơ

Ðứng trên đỉnh núi mộng mơ

Phú ông Chí Hiếu say sưa ngắm nhìn

Táo thần giúp hái ra tiền

Trong lòng đắc ý nên liền cười vang.

Chợt đâu một đạo hào quang

Vụt ngang hiện trước mặt chàng: "Người ơn"

Ðó là Hòa Thượng Thiết Sơn

Giọng Ngài nghiêm nghị, đâu còn như xưa

Trước kia vui vẻ có thừa

Giờ đầy quở trách, lại vừa uy nghiêm:

"Nghe đây Chí Hiếu ham tiền

Tham lam che lấp tâm hiền thuở xưa

Chẳng còn có chút lòng từ

Ðừng mong hưởng lộc giống như ngày nào!

Những gì ngươi đã thu vào

Tan mau như bọt sóng chao biển này!"

Nói xong Hòa Thượng vung tay

Nhổ luôn cây táo lên ngay tức thì

Nhắm ra biển Ngài ném đi,

Bóng Ngài biến mất. Bốn bề lặng yên.

Tiều phu sợ hãi vô biên

Ra về lủi thủi, muộn phiền xiết bao

Nhưng lòng yên trí phần nào

Nghĩ mình chất chứa sẵn bao bạc tiền

Dù cho chẳng có táo tiên

Vẫn còn vui hưởng của riêng đã đầy.

*

Tới nhà chàng sững sờ thay

Rõ ràng chốn cũ: "Lâu đài còn đâu?"

Tưởng chừng đang giấc chiêm bao:

Lều tranh nghèo khó thuở nào hiện ra,

Trên mình quần áo xa hoa

Biến thành cũ nát như là trước kia.

Tiều phu nước mắt đầm đìa

Tiếc thương cơ nghiệp biến đi mất rồi

Hai tay trắng khẽ buông xuôi

Thở dài hối hận, ôi thôi muộn màng!

*

Mây mờ che phủ trăng vàng

Thiết Sơn gió vẳng cung đàn hư không!

(phỏng theo bản văn xuôi
của Phạm Ngọc Khuê)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/09/2016(Xem: 7612)
Vào cuối đời Tây Tấn, vua Huệ Đế ngu tối, việc triều chính đều do hoàng hậu Giả thị chủ trương. Giả hậu là người nham hiểm, lại biết quyền biến đởm lược, mưu giết các thân vương, phế bỏ Thái tử. Triệu Vương Luân bèn phẫn uất, cử binh giết Giả hậu, truất phế vua Huệ Đế mà tự xưng lên làm vua. Các thân vương khác thấy vậy cũng dấy binh tranh giành lẫn nhau, cốt nhục tương tàn, làm cho nhà Tấn suy yếu.
22/08/2016(Xem: 7173)
Sáng hôm nay trong thinh lặng của một sáng chủ nhật mùa đông, tôi muốn dành tâm trí thảnh thơi để viết vài hàng trả nợ cho cô bạn tí hon ngày xưa. Nợ vì tôi cứ hẹn sẽ viết cho nàng. Gọi là bạn nhưng chưa bao giờ nói chuyện, gọi là bạn vì học cùng trường. Tí hon vì nhỏ hơn tôi ba tuổi. Từ nhỏ, tôi có một tật rất xấu, tôi xem ai nhỏ tuổi hơn tôi là con nít. Vì sao chỉ hơn vài tuổi mà khi nào tôi cũng có cảm tưởng như mình đứng rất cao để nhìn xuống những người tí hon này!
11/08/2016(Xem: 6065)
Nó không biết chính xác năm nay mình bao nhiêu tuổi, chỉ nghe sư thầy nói nó ở chùa đã 12 năm với cái tên Quảng Chân Tâm. Tất cả những đứa trẻ ở chùa ngoài tên đời do cha mẹ đặt, sư thầy đều cho pháp danh với chữ Quảng đứng đầu.
03/08/2016(Xem: 44504)
Nhà thơ triết gia Phạm Công Thiện [1941 - 2011] qua đời năm 2011 tại Houston, nhưng chuyện kể, các bài viết về anh đã nhiều lầm lạc : Người viết : anh bỏ áo tu hành lấy cô vợ người Pháp, theo Thiên Chúa Giáo, kẻ khác viết : anh không hề có một mảnh bằng kể cả bằng tú tài mà dạy Triết Học Viện Đại học Sorbonne, mười lăm tuổi anh đọc và viết hàng chục ngôn ngữ, mười lăm tuổi anh dạy trung học, hai mươi tuổi anh là khoa trưởng khoa Khoa Học Nhân Văn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn, anh là triết gia không cần học một ai ? Dạy Triết học tại một Đại Học Pháp mà không cần một văn bằng nào ?
25/07/2016(Xem: 7477)
Người đàn bà đến bên cửa sổ ghé mắt nhìn ra ngoài trời. Qua lớp mưa mù dầy đặc trắng xoá ngoài kia bà chẳng nhìn thấy được gì ngoài những tia chớp xé toạt không gian kèm theo hàng loạt tiếng sấm như long lỡ đất trời. Thời tiết chiều nay quá xấu, xấu hơn người ta đã dự đoán và xấu hơn sự suy nghĩ của Quang, đứa con trai lớn của bà. Đã mấy tháng rồi nó mới có dịp bay về thăm bà vậy mà hôm nay trời lại mưa bão quá chừng! Trước khi lên máy bay nó còn gọi báo cho bà biết: - Bên đây thời tiết đẹp lắm má! Mong rằng khi con bay sang đến Cali thì trời quang mây tạnh, con sẽ chở má đi ăn và ở chơi với má đến tối mới về lại khách sạn.
06/07/2016(Xem: 12970)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình với tựa đề là “Nước Úc trong tâm tôi” để sang năm 2016 sẽ xuất bản và ấn tống. Tác phẩm nầy được viết trong mùa An Cư Kiết Hạ lần thứ 31 của năm Ất Mùi, nghĩa là từ năm 1984 đến nay (2015) cứ mỗi năm ba tháng như vậy, Thầy trò chúng tôi có trọn vẹn 3 tháng an cư tại chùa Viên Giác thật là an lạc. Chương trình mỗi ngày được bắt đầu từ 5 giờ 45 sáng. Đại Chúng vân tập nơi Tổ Đường để xá Tổ, sau đó lên Chánh Điện, hô canh và tọa thiền 15 phút. Sau khi xả thiền, Đại Chúng bắt đầu trì tụng Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm, phần giữa của thời khóa có kinh hành niệm Phật ba vòng, tiếp đó lạy danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát và Thánh Chúng độ 35 lạy. Sau thời công phu khuya ai về phòng nấy để nghỉ ngơi hay hành trì tiếp, hoặc tập thể dục. Đúng 8 giờ sáng là giờ điểm tâm của Đại Chúng, ai nấy đều tỉnh thức trong lúc dùng sáng, không nói chuyện, mà câu chuyện hằng ngày chỉ được
13/06/2016(Xem: 7064)
Hoa Lan nhất định không đầu hàng ngẩng mặt than thở: “Đời là bể khổ, tình là giây oan“ như cụ Tố Như đâu. Hoa Lan phải tâm tâm niệm niệm cột vào tâm câu Nhất thiết duy tâm tạo, khổ hay vui đều do cái đầu và bàn tay năm ngón của ta điều binh khiển tướng. Hoa Lan sẽ kể về nỗi khổ, niềm đau của thế gian trong trường thiên Tỵ Nạn Tình Duyên, một vấn nạn trong cuộc sống lứa đôi, trong vòng ái ân, sinh tử. Nỗi khổ chúng sanh chỉ cần khoanh vùng trong hai chữ tỵ nạn cũng đủ làm ta khiếp vía. Nào tỵ nạn cộng sản, con rơi của tỵ nạn chính trị, cháu rớt của tỵ nạn kinh tế, những đề tài ấy nhắc đến đã đủ ù tai hoa mắt và cũng chẳng phải là sở trường của mình, Hoa Lan sẽ kể về đề tài tỵ nạn tình duyên, nơi đã đi, đã đến và đã về.
01/06/2016(Xem: 21887)
Bài này được viết như một ghi chú cho Thiền Tông, để như một cách tiếp cận đơn giản… và hy vọng, cũng là một ghi chú cho rất nhiều pháp khác của nhà Phật, kể cả Tịnh Độ. Bởi vì, Thiền Tông là pháp môn cốt tủy nhất, trực tiếp nhất, không qua bất kỳ phương tiện nào khác, và cũng có thể dùng làm chiếc cửa lớn cho tất cả các pháp khác.
31/05/2016(Xem: 25649)
Chuyện xảy ra ở Việt Nam, nhưng lại bắt đầu từ bên Mỹ. Số là, vào khoảng thời gian năm 1956, có một kỹ sư Hoa Kỳ tên là Frank M.Balk. Chàng kỹ sư này suốt đời chẳng biết gì về cái xứ bé nhỏ xa xôi tận vùng Đông Nam Á tên gọi là Việt Nam cả.
27/05/2016(Xem: 10464)
Bao nhiêu năm ao ước cho đến hôm nay tôi mới có duyên lành được hành hương về Tây Trúc - Tây Trúc hay Thiên Trúc là tên gọi trước đây của xứ Ấn Độ. Trong phái đoàn tôi đi có nhóm Sợi Nắng và các Phật tử đến từ Canada cũng như Hoa Kỳ. Về chư Tăng thì có thầy Tánh Tuệ - nhà thơ Như Nhiên. Thầy là người từng sống và học tập ở Ấn Độ suốt bảy năm nên thầy nắm rất rõ về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán... của người Ấn Độ. Cũng chính vì thâm niên như vậy nên nước da thầy rám nắng và người ta thường gọi thầy với cái tên rất gần gũi là "thầy cà-ri". Ngoài ra, phái đoàn còn có thêm sư cô An Phụng và sư cô Huệ Lạc