42. Chuyện Vua A-Dục

31/08/201113:33(Xem: 13278)
42. Chuyện Vua A-Dục

Vua A Duc-1


Đường Vào Nội Tâm

Thích Nữ Trí Hải

42. CHUYỆN VUA A-DỤC (ĐẦU GÌ QUÝ?)

(tặng thiếu nhi Tuệ uyển)


Hôm nay cô sẽ kể cho các em nghe câu chuyện vua A dục cảm hóa hoàng đệ và đình thần. Vua A dục là vị vua Ấn độ sống sau Phật Thích ca khoảng chừng ba trăm năm. Trước khi theo đạo Phật, vua rất hung ác, nhưng từ khi biết đạo, ông trở thành một vị vua nhân từ, tích cực hoằng dương chánh pháp. Vua cho dựng khắp xứ những trụ đá khắc lời Phật dạy để dân chúng noi theo tu học, từ bỏ sát sinh, trộm cắp, nói dối. Những trụ đá ấy đến nay các nhà khảo cổ vẫn còn tiếp tục khai quật được, bị chôn vùi dưới những lớp đất thật sâu tại Ấn độ: đó là chứng tích lịch sử hùng hồn nhất chứng minh sự thịnh hành của Phật giáo tại Ấn độ cách đây hơn hai ngàn năm.

Vua A dục thường lễ kính các vị tỳ kheo. Bất luận gặp các ngài ở đâu, vua cũng quỳ lạy sát đất. Mỗi khi vua cùng đi với triều thần, mà gặp một vị tỳ kheo, ngài liền xuống xe đảnh lễ. Triều thần thấy vua lạy buộc lòng phải lạy theo, nhưng thâm tâm thì không muốn. Có lần, họ đánh bạo tâu vua:

- Tâu bệ hạ, bệ hạ là chủ cả nước, sao bệ hạ lại cúi đầu trước mấy thầy tu chỉ là thần dân của mình?

Để cho các quan một bài học, một hôm vua ra lệnh họ đi tìm tất cả những cái đầu của đủ các loài, từ nhỏ đến lớn, đem về chất đầy một nhà kho. Nào đầu heo, đầu bò, đầu ngựa, đầu khỉ, cho đến đầu cá đầu tôm... Cuối cùng vua bảo đem về một cái đầu người, chặt từ những thây chết ngoài rừng thây. Sau khi sưu tập đủ loại đầu, vua bảo họ đem bán. Đầu con gì cũng có ít nhiều giá trị, nhưng khi đem bán cái đầu người, thì thiên hạ đều ghê sợ, không ai mua, đành phải đem về tâu vua. Vua bảo: "Vậy, các khanh hãy đem cho không." Họ nói: "Tâu bệ hạ, dù cho không, cũng chẳng ai lấy làm gì cả."

Nhân đấy vua triệu tập các quan, dạy:

- Các ngươi cho đầu người ta quý, không nên dùng để lễ bái, nhưng qua kinh nghiệm vừa rồi, ngươi thấy nó có quý bằng đầu tôm, đầu cá chăng? Tại sao đầu con gì dù nhỏ nhất cũng có chút ít giá trị, chỉ có đầu người cho không cũng không ai thèm? Như vậy đủ biết, cái đầu người ta không quý gì cả, còn thua cái đầu thú vật, nhưng sở dĩ nó quý là nhờ những tư tưởng chỉ đạo cho hành vi tốt phát xuất từ cái đầu ấy. Nay ta kính lễ các bậc chân tu là để thực hành hạnh cung kính Tam bảo, hành vi ấy xuất phát từ tư tưởng tốt đẹp, các ngươi không nên kích bác ta.

Các quan từ đấy không còn chê vua là hạ mình một các vô lý. Đối với hoàng đệ, vua cũng cho một bài học thâm trầm. Ngài có người em trai kế cận thường chê vua mê tín, cứ đem lễ vật cống hiến cho bọn thầy tu ăn không ngồi rồi. Hoàng đệ nói:

- Thưa vương huynh, theo em thấy, những lão thầy tu kia cũng như mình, biết ăn ngon mặc đẹp, hưởng thụ các giác quan như mình, có gì hơn chúng ta mà vương huynh quá kính trọng như thế?

Để trả lời em, một lần nọ vua tổ chức một cuộc du ngoạn tắm biển, mời hoàng đệ và hai ái phi cùng đi. Ra tới bãi biển, vua cởi bỏ long bào vương miện giao cho một cung phi giữ, cô kia cùng bơi với vua và hoàng đệ ra xa. Vua bơi trước, cung phi nửa chừng giả bộ đuối sức, kéo hoàng đệ cùng quay vào bờ. Hoàng đệ bơi theo, cả hai cùng lên đến chỗ cung phi đang giữ áo mão. Cô này nói:

- Thưa hoàng đệ, sẵn có áo mão nhà vua đây, hoàng đệ mặc vào cho chúng em ngắm thử, chắc đẹp lắm.

- Ta đâu dám.

- Không sao đâu, nhà vua đã bơi ra xa, hoàng đệ thử mặc một lát chơi thôi mà. Hãy cho chúng em ngắm trước vị vua tương lai trẻ đẹp. Phần áo mão này có ngày hoàng đệ cũng sẽ mặc thôi, bây giờ ướm thử thì đã sao!

Nghe bùi tai, hoàng đệ đỡ lấy long bào trên tay cung nữ. Vừa khoác áo đội mão lên, đang cùng với hai cung phi ngắm nghía, bỗng đức vua đã vào tới bờ. Ngài giận dữ tiến lại:

- A, hoàng đệ có âm mưu gì mà dám mục long bào của trẫm? Lại dám đùa giỡn với hai ái phi ta? Tội khi quân đáng chém đầu. Hãy đưa về triều xử trảm.

Vua thét thị vệ trói cả ba dẫn về, thiết triều để nghị án. Các quan đều đồng ý rằng theo luật phải tử hình, nhưng vì em vua nên xin giảm nhẹ. Vua phán:

- Thôi thì vì tình ruột thịt, ta tạm hoãn cho bảy ngày. Và vì ngươi muốn làm vua, cho nên ta sẽ cho mặc áo long bào, vươn miện và ngồi trên ngai vàng bảy ngày liên tiếp trước khi ra pháp trường chịu tội. Ta sẽ cho ngươi hưởng thụ tất cả dục lạc của đế vương trong thời gian đó, cho ngươi thỏa nguyện.

Rồi vua sai những quan thị vệ, đầu bếp, hầu tắm, bồi bàn, cung phi mỹ nữ...hầu hạ hoàng đệ y như hầu hạ nhà vua thường ngày. Lại cho ngồi trên ngai, nằm long sàng, xử dụng chén vàng đĩa b?c của vua. Mỗi ngày khi mặt trời lặn, một quan thị vệ lại quỳ tâu: "Tâu bệ hạ, một ngày đã qua, chỉ còn không mấy ngày nữa là nhà vua sẽ ra pháp trường chịu tội."

Cứ thế cho đến hết ngày thứ sáu, quan thị vệ lễ phép quỳ tâu:

- Tâu bệ hạ, chỉ còn một ngày nữa thôi, bệ hạ sẽ từ bỏ ngai vàng để lãnh án tử hình.

Đêm ấy vua A Dục vào thăm hoàng đệ.

- Sao? Em thấy thế nào trong sáu ngày vừa qua, khi hưởng dục lạc của vương vị?

Hoàng đệ khóc òa:

- Ôi vương huynh ơi! Chẳng thà vương huynh đưa em ra pháp trường mà chém quách đi, còn đỡ khổ hơn giết lần giết mòn em với cái trò làm vua quái ác này! Nó làm cho em bạc cả đầu, sâu cả mắt, ăn không ngon ngủ không yên, khi thấy mình tiến từ từ đến cái chết!

- Như vậy em không sung sướng gì khi hưởng thụ dục lạc vì nghĩ đến cái chết phải không? Các vị tỳ kheo đệ tử Phật cũng thế đó, các ngài luôn sống trong pháp quán tưởng vô thường, thì làm sao có thể sung sướng khi được chúng ta tôn trọng, cung kính cúng dường lễ bái? Càng được cung kính cúng dường, những vị chân tu càng sợ hãi như bị đeo thêm đá vào người, cảm thấy trách nhiệm mình càng lớn, mà cái chết gần kề, làm sao yên ổn được? Em vừa mới sống sáu ngày qua trong tâm trạng căng thẳng tột độ, chắc em đã hiểu tại sao ta đảnh lễ, cúng dường các vị tỳ kheo?

Hoàng đệ ôm chầm chân vua nức nở:

- Thì ra đây là bài học vương huynh muốn dạy em!

- Chính thế.

- Và Vương huynh tha chết cho em?

- Dĩ nhiên.

- Đa tạ ơn vương huynh! Em xin ghi nhớ suốt đời bài học này!

Hoàng đệ rối rít cảm ơn vua, và từ đấy theo vua học đạo, tập tành cái hạnh cung kính những bậc đạo đức hơn mình.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6254)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23393)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4974)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18729)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21977)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17350)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5879)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15603)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 22193)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8295)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.