19. Vọng Phu

31/08/201113:33(Xem: 11324)
19. Vọng Phu

Đường Vào Nội Tâm
Thích Nữ Trí Hải

19. VỌNG PHU

Khi ngưòi đang hái hoa lòng say mê lạc thú, niềm vui kia
chưa thỏa tử thần đã lôi xa

(Pháp cú 48)

Một buổi sáng ở thiên đường, vua trời Đế thích đi vào Lạc viên ở cung trời 33 cùng với một ngàn thiên nữ hầu hạ. Năm trăm nàng leo lên cây hái hoa tung xuống. Năm trăm nàng lượm hoa kết thành tràng để trang sức cho vua trời, chồng của họ. Một nàng đang hái hoa chẳng may trúng gió nặng, hồn lìa khỏi xác ngay khi ngồi trên cây. Thân thể nàng tan biến mau lẹ theo hơi sương (vì là tiên nên thể xác có phần nhẹ hơn người trần) và thần thức nàng nhập vào thai cung của một phụ nữ thuộc gia đình trưởng giả thành Xá vệ. Khi xuất thai và dần dần lớn thành một thiếu nữ, nàng vẫn nhớ kiếp vừa qua của mình và mong mỏi được trở về cõi trời hầu hạ Đế thích như trước. Nàng thường đến Kỳ viên tinh xá Cấp Cô Độc để cúng dường Phật và chúng tăng với một ước nguyện bất di dịch: "Mong rằng với phước đức này con được trở lại với chồng con". Các tỳ kheo đều lấy làm lạ về lời nói của thiếu nữ, và đặt cho nàng một biệt hiệu là "Vọng phu". Vọng phu tiếp tục bố thí cúng dường như vậy cho đến khi mười sáu tuổi, cha mẹ gả chồng cho nàng và lần hồi sinh hạ được bốn con.

Một ngày kia, sau khi đến tinh xá cúng dường Phật và chúng tăng trở về, Vọng phu cảm thấy nhức đầu chóng mặt, lên giường nằm một lát rồi trút hơi thở cuối cùng. Thần thức nàng trở về cõi trời 33 trong khi các thiên nữ đang bận rộn kết hoa để trang hoàng cho Đế thích. Khi vua Trời thấy nàng liền hỏi: - Sáng nay sao ta không thấy nàng. Nàng đi đâu? - Thưa thần thiếp chết giấc một hồi, rời khỏi thiên cung. -Nàng nói cái gì thế? Đế thích ngạc nhiên - Quả thế, muôn tâu thánh thể, thần thiếp đã chết đi một lát. - Rồi nàng tái sinh ở đâu? - Tâu, ở một gia đình trong thành Xá vệ. - Nàng ở đấy bao lâu? - Sau mười tháng ở trong thai, thần thiếp ra khỏi thai mẹ. Khi 16 tuổi, thần thiếp được gả chồng, có bốn con. Thần thiếp đã bố thí tu phước liên miên, ước nguyện được trở về thiên cung sum họp với thánh thể. - Đời sống của con người dài bao lâu? - Tâu thánh thể, chỉ có một trăm năm thôi ạ! - Ôi, ngắn thế kia ư? - Dạ, tâu thánh thể. - Nếu đời sống con người ngắn ngủi như thế thì chúng phỏng làm được cái gì? Chắc là chúng phải tạo phước lành gấp rút lắm? - Dạ không, trái lại, tâu thánh thể, con người dưới ấy vẫn mê ngủ, buông lung, bê tha, làm như chúng sẽ được sống mãi hoài, làm như chúng sẽ không bao giờ già chết. Vua trời nghe xong, buồn rầu bảo: - Nếu như lời nàng nói, con người chỉ sống được có trăm năm, mà lại mê ngủ, buông lung, bê tha thì biết bao giờ chúng mới thoát khỏi khổ?

Ngày hôm sau ở Xá vệ khi chúng tỳ kheo vào làng đến chỗ thường lệ vẫn được nàng Vọng phu tiếp đón, thì thấy lạnh ngắt như tờ. Không có chỗ ngồi, nước uống được xếp đặt như mọi khi. Họ hỏi: - Vọng phu đâu rồi? Dân chúng thưa: - Bạch chư Đại đức, nàng ấy đã chết chiều qua, sau khi cúng dường trở về. Khi ấy những vị tỳ kheo chưa chứng quả bỗng thấy lòng buồn man mác, nhớ đến những săn sóc chu đáo của người tín nữ hôm qua mới đó, mà nay đã ra người thiên cổ. Trở về họ hỏi Phật: - Bạch Thế tôn, Vọng phu tạo phước cúng dường nhiều chỉ cốt để được gặp chồng. Tại sao nàng vừa mới ở với chồng chưa bao lâu, hương lửa đang nồng mà phải chết như vậy? Bây giờ nàng tái sanh ở đâu? - Này các tỳ kheo, không phải Vọng phu ước được sống với người chồng hiện tại của nàng đâu. Nàng vọng là vọng cái người chồng cũ của nàng trên cõi trời thứ 33 ấy, và bây giờ đã được toại nguyện. Hiện giờ, nàng đang trở lại hầu hạ Đế thích trong Lạc viên. Một đời nàng trải qua dưới thế gian này không dài bằng nửa buổi sáng trên cung trời Đế thích. - Ồ, bạch Thế Tôn, đời con người sao mà ngắn ngủi! Mới buổi sáng nàng ấy cúng dường thực phẩm cho chúng con, mà chiều nay đã nghe nàng chết rồi . - Quả thế, các tỳ kheo, đời con người ngắn ngủi lắm. Trong khi chúng khát khao những lạc thú cõi trần mà chưa được thỏa, chúng đã bị thần chết mang đi.

(thuật theo Truyện tích Pháp cú)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6233)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23317)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4914)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18629)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21756)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17220)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5795)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15469)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 21518)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8276)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.