17. Tôn Giả Bôi Ðộ

05/06/201115:05(Xem: 23300)
17. Tôn Giả Bôi Ðộ

CAO TĂNG DỊ TRUYỆN
(Truyện Kể Các Vị Cao Tăng Trung Quốc)
Hạnh Huệ biên soạn - Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 2001

17. TÔN GIẢ BÔI ĐỘ

Ban đầu Sư thị hiện ở Ký Châu, diện mạo rất khô cằn, lạnh lùng, thường cưỡi cây trên sông Bôi Độ, thần hóa khôn lường. Sư không tu tế hạnh, có lúc đập băng mà tắm, lúc lại mang guốc lên núi, hoặc đi chân không vào chợ, vác một cái bị mà thôi, chẳng có gì khác.

Một hôm Sư đến Quảng Lăng, gặp nhà họ Lý trong làng đang cúng trai tăng, Sư đặt bị giữa sân rồi vào thẳng trai đường mà ngồi, mọi người đều nhìn mà Sư vẫn tự nhiên.

Khi ấy, có mấy người thấy chiếc bị để chắn giữa đường, bèn dời qua một bên, nào ngờ dùng hết sức mà không nhúc nhích. Ăn xong, Sư vác bị lên, cười nói:

- Tứ thiên vương!

Có đứa bé họ Lý lén nhìn thấy trong bị có bốn đứa bé cao mấy tấc, mi mắt như tranh vẽ. Họ Lý thấy lạ, bèn thỉnh Sư lại cúng dường rất lâu. Một hôm, Sư đòi áo cà sa, họ Lý chưa lo kịp, Sư nói:

- Tôi ra ngoài kia một chút!

Đợi đến chiều cũng chưa thấy Sư trở lại, lại nghe trong không có mùi hương lạ, mọi người theo tìm thì gặp Ngài ở dưới chân Bắc Sơn, trải cà sa rách trên đất, an nhiên thị tịch, trên đầu và dưới chân có hoa sen mọc, cả người tỏa hương thơm, qua đêm bỗng héo. Người ta chôn Ngài đã mấy hôm, sau lại có người từ phương Bắc đến nói rằng thấy Ngài vác bị đi về hướng Bành Thành. Họ Lý mở quan tài, chỉ thấy có đôi giày.

Ngài đến Bành Thành, có ông Hoàng Hân tin sâu Phật Pháp, thấy Ngài bèn chào hỏi rồi thỉnh về nhà. Nhà ông lại quá nghèo chỉ ăn gạo tẻ mà thôi, nhưng Ngài ăn vào lại ngọt như mạch nha. Sau Ngài đi về phương Đông đến Ngô Quận, thấy người chài đang lưới cá, Ngài theo xin, người chài nổi giận không cho. Ngài lượm hai cục đá nhỏ ném xuống nước, phút chốc có hai con trâu húc vào lưới làm rách nát rồi trâu biến mất.

Chu Linh Kỳ, dân ở Ngô Quận, từ Cao Ly trở về, bị gió thổi đến một hòn đảo, thấy một ngôi bảo tự. Tăng trong chùa đang dọn cơm, ông liền đến vái chào, xin giúp trở về làng. Vị tăng ấy hỏi:

- Ông biết đạo nhân Bôi Độ chăng?

- Biết!

Vị tăng chỉ một cái đãy treo trên vách, có tích trượng và bình bát, nói:

- Đây là của Bôi Độ. Nay tôi gởi ông đưa bình bát này cho ông ta.

Và viết thơ. Xong đưa gậy trúc xanh bảo đặt trước thuyền. Linh Kỳ theo lời, ba ngày liền đến Thạch Đầu. Bôi Độ bỗng đi đến, nhận thơ xem rồi cười to, lấy tay tung bình bát lên không, rồi đón lấy nói:

- Ta chẳng thấy bình bát này cách đây đã bốn ngàn năm.

Đời Tống, niên hiệu Nguyên Gia thứ ba, tháng 9 Sư thị tịch. Sau khi diệt độ, người ta vẫn gặp Ngài luôn. Ngài có làm bài ca “Một Bình Bát” như sau:

Sợ kinh khiếp!

Đều là liên miên tạo xoa sát (mạt thát).

Như đói ăn muối càng thêm khát,

Uổng cả một đời đầu cạo miết

Cứu cánh chẳng thể biết gốc ngọn

Ném tử thi đi, chỗ nào thoát?

Khuyên anh nổ lực cầu giải thoát

Việc nhàn rốt cuộc phải nắm bắt

Lửa rớt trên thân cần phải phủi

Chớ đợi gần chết kêu Bồ tát.

Trượng phu nói năng hải khoáng đạt

Chớ học phàm phu ưa vuốt ve

Theo thời, kết quả học bỏ hết

Cũng học nhu hòa, ăn gạo dở

Cũng cạo đầu, cũng đắp y

Học phàm phu tạo sanh hoạt

Nói thẳng với anh, anh chưa đạt

Lại làm trường ca, ca một bát.

Một bát ca, một trong nhiều,

nhiều trong một.

Chớ cười người quê ca một bát

Từng đem một bát độ ta bà.

Trời xanh lồng lộng trăng vừa lên

Lúc này ảnh – không gồm vạn tượng

Bao chốn phù sinh tự thị phi

Một nguồn thanh tịnh không lai vãng.

Lại chớ đem tâm tạo bọt nước

Trăm lông máu chảy ai dạy thế.

Chẳng bằng ngồi lặng đất Chân như

Trên đảnh mặc cho chim làm ổ.

Mấy đời con Kim Luân Thánh Vương

Chỉ là Chân như Linh giác này

Dưới cội Bồ đề độ chúng sanh

Độ hết chúng sanh không sanh tử.

Chẳng sanh chẳng tử, chân Trượng phu

Không hình không tướng, đại Tỳ Lô

Trần lao diệt hết, Chân như đấy.

Một viên tròn sáng, châu vô giá.

Mắt không thấy, tai chẳng nghe.

Chẳng thấy, chẳng nghe, thật thấy nghe.

Từ xưa một câu, không ngôn thuyết

Hôm nay ngàn lời gượng phân tích.

Hãy lắng nghe!

Người người đều có tánh Chân như

Giống như hoàng kim ở trong quặng

Luyện đi luyện lại, thể vàng sạch.

Chân là vọng, vọng là chân.

Nếu trừ chân vọng lại không người

Chân tâm chớ dối sanh phiền não

Cơm áo tùy thời nuôi sắc thân.

Tốt cũng mặc, xấu cũng mặc

Tất cả vô tâm chớ dính mắc

Cũng không tốt, cũng không xấu

Hai mé thản nhiên, đạo bình đẳng.

Thô cũng ăn, tế cũng ăn

Chớ học phàm phu nhìn trên tướng

Cũng không thô, cũng không tế

Hương tích cõi trên không cội rễ.

Ngồi cũng đi, đi cũng ngồi

Dưới cây sanh tử, quả Bồ đề

Cũng không ngồi, cũng không đi

Không sanh đâu cần kiếm vô sanh!

Sanh cũng được, tử cũng được

Xú xứ đương lai thấy Di Lặc

Cũng không sanh, cũng không tử

Ba đời Như Lai đều như thế.

Lìa thì dính, dính thì lìa

Trong cửa huyễn hóa không nghĩa thật

Không thể lìa, không thể dính,

Chỗ nào lại cầu không bệnh thuốc?

Nói thời im, im thời nói

Nói nín ngang dọc không chỗ nơi.

Cũng không nói, cũng không nín

Chớ gọi Đông Tây là Nam Bắc.

Sân tức hỉ, hỉ tức sân,

Ta tự hàng ma, chuyển Pháp Luân

Cũng không sân, cũng không hỉ

Nước chẳng lìa sóng, sóng tức nước.

Tiếc thời bỏ, bỏ thời tiếc

Chẳng lìa trong ngoài và ở giữa

Cũng chẳng tiếc, cũng chẳng bỏ

Tịch tịch liêu liêu không chỗ nắm.

Khổ thì vui, vui thì khổ.

Chỉ tu hành này dứt cửa nẻo

Cũng không khổ, cũng không vui

Xưa nay tự tại không dây nhợ.

Dơ tức sạch, sạch tức dơ

Hai bên rốt cuộc không sau trước

Cũng chẳng dơ, cũng chẳng sạch

Đại thiên đồng một tánh chân như.

Thuốc là bệnh, bệnh là thuốc

Cuối cùng hai việc cần nêu hết

Cũng không thuốc, cũng không bệnh

Chính là chân như tánh giác linh.

Ma làm Phật, Phật làm ma

Trong gương tìm bóng, sóng trên nước

Cũng không ma, cũng không Phật

Ba đời xưa nay không một vật.

Phàm tức thánh, thánh tức phàm

Keo trong màu xanh, trong nước lam

Cũng không phàm, cũng không thánh

Vạn hạnh tổng trì, không một hạnh.

Giả trong chân, chân trong giả.

Tự là phàm phu khởi vọng trần

Cũng không chân, cũng không giả

Nếu không lúc gọi đâu vâng dạ!

Xưa nay không họ cũng không tên

Chỉ vậy đằng đằng chân tin bước

Có lúc quán chợ cùng hàng thịt.

Một đóa sen hồng trên lửa sanh

Cũng từng gậy trúc dạo kinh lạc

Thân dường mây nổi không vướng mắc

Huyễn hóa từ lâu tợ ở nhờ

Nhà người chỗ chạm lại thanh hư

Nếu tìm giới!

Ba độc lở loét bao giờ khỏi?

Nếu kiếm thiền!

Ta tự tung hoành tìm đá ngủ

Thật đáng thương, chẳng phải điên

Thế gian, xuất thế, thiên trung thiên

Người đời chẳng hiểu được ý này

Đánh nhằm bên Nam, động bên Bắc.

Nếu kiếm pháp!

Trong núi Kê Túc hỏi Ca Diếp

Đại sĩ giữ y ở trong này

Xưa nay chẳng cần cầu giữ vỏ.

Nếu tìm kinh!

Pháp tánh Chân Nguyên không thể nghe.

Nếu kiếm luật!

Cùng tử chẳng nên dạy chạy ra.

Nếu tìm tu!

Tám vạn phù đồ cầu chỗ nào?

Chỉ biết lá vàng dừng tiếng khóc.

Bất giác mây đen che mặt trời

Chớ lạ lời cuồng không thứ lớp

Sàng lưới dần vào tế trong thô

Chỉ cái tế trong thô cũng không

Tức là viên minh chân thật đế.

Chân thật đế vốn không chân

Chỉ là danh văn, tức là trần

Nếu hướng trong trần hiểu chân thật

Liền là đường đường người xuất thế.

Người xuất thế, chớ tạo tác

Độc hành, độc bộ, không thênh thang

Không sanh, không tử, không Niết Bàn

Xưa nay sanh tử không quan hệ.

Không thị phi, không động tĩnh

Chớ dối đem thân vào giếng không

Không thiện ác, không đến đi

Cũng không gương sáng treo đài cao

Kiến giải sơn tăng chỉ như thế

Chẳng tin tùy họ tạo kiếp tro.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 7817)
Còn trong tác phẩm Và khi tro bụi của nhà văn Đoàn Minh Phượng, người đọc không bước qua một cánh cửa, không đi theo một đường thẳng mà cứ bị dẫn dắt qua bao lối rẽ. Người đàn bà đi tìm cái chết, nhưng rồi cuối cùng chính chị phải tìm cách ngăn lại một cái chết khác. Mỗi người được sinh ra không phải để đi tìm cho mình một dấu chấm hết, mà là một mắt xích tạo nên dòng đời. Cho dù cuộc đời chỉ được ghi nhận bằng dòng chữ ngắn ngủi “Tôi là một đứa trẻ mồ côi....
10/04/2013(Xem: 16961)
Trên thế giới ngày nay, những sách vở nói về các vấn đề huyền linh có rất nhiều, sau khi sưu tầm sự thật về những bậc làm cho tôi cảm thấy khích lệ tinh thần để trình bày kinh nghiệm riêng của tôi về những đấng Chân Sư của Phương Đông. Trong những chương sách này, tôi không có ý diễn tả một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào. Tôi chỉ đưa ra một tóm lược những kinh nghiệm cá nhân của mình về các đấng Chân Sư, để trình bày những chân lý căn bản trọng đại trong giáo lý của ngài.
10/04/2013(Xem: 13177)
Người du khách cuối cùng đã về; người hướng dẫn viên cuối cùng đã lập lại đến cả ngàn lần những điều hiểu biết của mình để giới thiệu cho du khách ngoại quốc về xứ cổ Ai Cập.
10/04/2013(Xem: 20337)
Theo truyền thuyết Ấn giáo, thần Vishnu có lần hoá sinh làm một vị vương tử sống bên bờ sông Hằng. Tên ông là Ravana. Ravana có một người con trai tên Dasa. Mẹ Dasa chết sớm, vương tử cưới một người vợ khác. Sau khi người đàn bà đẹp và tham vọng này sinh được một con trai, bà đâm ra thù ghét Dasa. Bà muốn cho Nala, con mình kế vị, nên âm mưu chia rẽ cha con Dasa, và chờ cơ hội thanh toán cậu bé.
10/04/2013(Xem: 19681)
Tập: Bàn về Tây Du Ký này viết sau khi đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh trình chiếu bộ phim "Tây Du Ký". Dương Khiết đạo diễn. Tập này được soạn giả xe là Hoa Ngọc lan, tập Ba; tiếp theo Hoa Ngọc Lan, tập Một, xuất bản năm 1998. Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh; Hoa Ngọc Lan, tập Hai, xuất bản tháng 03 năm 2000, Nhà Xuất bản Tôn Giáo.
10/04/2013(Xem: 19714)
Điều nầy khiến người viết " Bàn về Tiểu Thuyết Kim Dung " đi tìm lại các cảm xúc của mình khi mải mê đọc võ hiệp Kim Dung vào thập niên 60, đặc biệt là cảm xúc về Phật học, về Văn hoá và Giáo dục. Người viết chỉ có một nguyện vọng khiêm tốn là nói lên một tiếng nói trân trọng về những gì tốt đẹp mà Kim Dung đã cống hiến cho độc giả bốn phương.
10/04/2013(Xem: 22366)
BẰNG TẤT CẢ TẤM LÒNG Thích Chân Tính Nhà Xuất Bản Thuận Hoá - Huế 1996
10/04/2013(Xem: 11279)
Quyển Hồi Ký này của tu sĩ Yogananda có một giá trị độc đáo vì nó là một trong những tác phẩm nói về các bậc thánh nhân, hiền triết Ấn Độ, không phải được viết ra bởi một ký giả hay văn sĩ ngoại quốc, mà bởi một tác giả nòi giống và cùng một nền giáo dục tâm linh với những người mà ông diễn tả. Nói tóm lại, đây là một quyển sách của một người Yogi viết về những người Yogi. Dưới hình thức một truyện trường thuật của một nhân vật tiết lộ cho chúng ta biết cuộc đời và những quyền năng lạ lùng của những bậc hiền giả của xứ Ấn. Quyển sách này có một tầm quan trọng rất lớn trong thời gian và ngoài không gian...
10/04/2013(Xem: 24802)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: Thế nào là đạo? Ðáp: Tâm bình thường là đạo. Một câu như thế đủ làm cửa ngỏ để chúng ta đọc tập sách này. Vì trong đây là những mẫu chuyện về các bậc cao tăng có đời sống khác lạ, . . .
10/04/2013(Xem: 20480)
Đọc “Câu chuyện dòng sông”, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. “Câu chuyện dòng sông” là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta; đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tuyệt.