91. Phật độ người hung ác

04/03/201103:31(Xem: 10093)
91. Phật độ người hung ác

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ MƯỜI: CÁC NHÂN DUYÊN KHÁC

PHẬT ĐỘ NGƯỜI HUNG ÁC

Khi đức Phật vừa thành chánh giác, ngài muốn hóa độ cho các vị vua loài rồng, liền hiện thân xuống dưới chân núi Tu-di, hóa hình một vị tỳ-kheo, ngồi thiền dưới gốc cây.

Lúc ấy có con chim Kim-sí bắt được một con rồng con ở giữa biển, mang đến núi Tu-di thả xuống mà ăn thịt. Con rồng ấy còn chưa chết hẳn, mở mắt nhìn thấy vị tỳ-kheo ngồi thiền nơi gốc cây, liền thành tâm mà cầu khẩn, phát sinh lòng tin sâu vững nơi vị ấy.

Ngay khi ấy, rồng bỏ mạng. Do thiện tâm hướng đến Phật, nên thoát thân loài rồng, được sinh làm người, trong một nhà bà-la-môn ở thành Xá-vệ. Người bà-la-môn ấy tên là Phụ-lê, sanh được đứa con trai xinh đẹp, kháu khỉnh, liền đặt tên cho là Tu-bồ-đề.

Đứa trẻ ấy ngày càng khôn lớn, thông minh trí huệ ít ai bì kịp, chỉ có điều tính tình cực kỳ hung ác. Mỗi khi nhìn thấy ai cũng đều sinh lòng sân hận, chỉ muốn nhục mạ, gây hấn, thậm chí cho đến đối với súc vật cũng có lòng hiềm hận, oán ghét.

Do vì tánh tình như vậy, nên đến cha mẹ, thân thuộc cũng đều dần dần xa lánh, không muốn gặp gỡ. Trong lòng chán nản, liền bỏ nhà vào sống trong rừng sâu hẻo lánh. Nhưng cho đến sống ở nơi như thế, đối với cầm thú chim muông cũng sanh lòng giận dữ, oán ghét, thậm chí gió lay cây cỏ cũng làm cho tức giận, nên trong lòng chẳng lúc nào thấy vui.

Nơi ấy có vị thần núi, thấy vậy liền bảo Tu-bồ-đề rằng: “Ngươi nay bỏ nhà đến sống nơi chốn sơn lâm cùng cốc này, nếu không tu thiện thì có ích lợi gì, chỉ tự làm khổ lấy mình đó thôi. Nay có đức Phật Thế Tôn đang ở tinh xá Kỳ Hoàn, thường dạy chúng sanh bỏ ác tu thiện. Nếu ngươi đến đó tất có thể trừ được lòng sân nhuế, ác độc.”

Tu-bồ-đề nghe vị thần núi nói lời ấy bỗng sanh tâm hoan hỷ vô cùng, liền hỏi rằng: “Nơi ở của Thế Tôn, làm sao tìm đến được?” Thần núi nói: “Nếu ngươi muốn đi, chỉ việc nhắm mắt lại, ta sẽ giúp ngươi.”

Tu-bồ-đề nghe lời nhắm mắt lại, chỉ trong giây lát liền được thần núi mang đến tinh xá Kỳ Hoàn. Đến nơi, nhìn thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng quanh thân, oai nghi rực rỡ thù thắng vô cùng, liền sanh lòng kính ngưỡng, hoan hỷ, chí thành lễ bái rồi chấp tay đứng sang một bên.

Phật liền vì Tu-bồ-đề mà thuyết dạy rằng: “Lòng sân hận, độc ác, ngu si, phiền não làm mất đi căn lành nơi chúng sanh, lại tăng trưởng thêm điều ác, nên phải lãnh chịu quả báo nơi địa ngục, khổ não không sao nói hết. Đến khi thoát được địa ngục, lại còn phải thọ thân rắn, rồng, la-sát, quỷ thần... trong tâm thường hiểm độc, tàn hại lẫn nhau.”

Tu-bồ-đề nghe Phật thuyết dạy, trong lòng kinh sợ, sanh tâm hối trách, hiểu ra rằng tự bấy lâu nay đã nuôi lấy ác tâm. Liền đối trước Phật chân thành lễ lạy sám hối. Ngay khi ấy chứng đắc quả Tu-đà-hoàn, liền vui mừng cầu xin xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, râu tóc tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán, đủ Ba trí sáng, Sáu phép thần thông, Tám môn giải thoát, khắp cõi trời người ai gặp cũng đều kính trọng, ngưỡng mộ.

Chư tỳ-kheo thấy việc Tu-bồ-đề được Phật hóa độ, liền thưa hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn! Chẳng hay tỳ-kheo Tu-bồ-đề trước đây tạo những nghiệp thiện ác như thế nào, mà nay tuy được thân người tâm thường sân hận, hung ác, nay lại được gặp Phật xuất gia đắc đạo.”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Ca-diếp. Trong chúng hội của ngài có một tỳ-kheo thường đi khuyến hóa, cùng với chư tỳ-kheo đi cúng dường khắp mọi nơi, cho đến mười ngàn năm như vậy. Ngày kia, chư tỳ-kheo có chút việc bận rộn chẳng cùng đi theo, ông liền giận dỗi buông lời thóa mạ rằng: ‘Các ông thật là hiểm độc, khác nào loài rồng dữ.’ Nói rồi bỏ đi.

“Do nghiệp duyên đó, trong năm trăm đời phải sanh vào loài rồng dữ, tâm thường độc hiểm, ác hại chúng sanh. Nay tuy được thân người mà nghiệp xưa chưa dứt hẳn, vì vậy mà thường hay sân hận.”

Phật lại dạy rằng: “Tỳ-kheo buông lời ác khẩu ngày trước, nay là Tu-bồ-đề đó. Nhờ công đức cúng dường chư tăng, nên nay được gặp Phật xuất gia đắc đạo.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 5922)
Có một dòng sông rất đẹp chảy qua núi đồi và đồng cỏ xanh tươị Dòng sông ca hát nhảy nhót tung tăng từ trên núi xuống đồng bằng. Xuống đồng bằng, dòng sông chảy chậm lại, mặt nước trong xanh êm mát.
10/04/2013(Xem: 7728)
Thuở ấy khi vừa bước vào Thiên Đường, Bích Thảo đến đứng trước một cây kỳ lạ, cây vừa là đàn ông vừa là đàn bà. Bích Thảo cúi chào cây một cách kính cẩn và hỏi : "Chào cây, cây có phải là cây của sự sống không?" Nhưng khi có con rắn muốn thay cây trả lời cho chàng thì Bích Thảo quay lưng bỏ đi.
10/04/2013(Xem: 6523)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 24856)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 5291)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 19433)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 22467)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17846)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 6114)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 16210)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.