15. Thiên đế cúng Phật

04/03/201103:31(Xem: 10044)
15. Thiên đế cúng Phật

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ HAI: CÚNG DƯỜNG ĐƯỢC THỌ BÁO

THIÊN ĐẾ CÚNG PHẬT

Lúc ấy, Phật ở tại thành Vương-xá, cùng với chư tỳ-kheo nơi tinh xá Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, Đề-bà-Đạt-đa là người ngu si cực ác, kiêu căng, ganh ghét, mới xúi giục vua A-xà-thế ban hành chế lịnh chẳng đúng chánh pháp. Vua cho người đánh trống đi khắp nơi mà tuyên lệnh rằng: “Từ nay không cho phép nhân dân đến cúng dường nơi chỗ sa-môn Cồ-đàm nữa.”

Lúc ấy, trong thành có một người tin sâu nơi Phật, nghe lệnh cấm ấy rồi thì trong lòng buồn bã, âu sầu áo não, thảm thiết than khóc chấn động đến cả cung điện cõi trời của vua trời Đế-thích.

Đế-thích thấy cung điện của mình bỗng dưng chấn động, liền quán sát nguyên nhân mới biết việc Đề-bà-Đạt-đa xui vua cấm dân cúng dường Phật, khiến người kia khóc than buồn thảm chấn động cõi trời. Tức thời, Đế-thích liền hiện xuống, giữa nơi thinh không phát âm thanh lớn cho mọi người đều nghe rằng: “Ta nay sẽ đến cúng dường đức Phật với chư vị tỳ-kheo tăng.”

Nói lời ấy giữa thinh không rồi, Đế-thích liền đến nơi Phật ngự, cung kính lễ bái, thưa thỉnh Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Xin ngài nhận cho con được cung phụng, cúng dường Phật và chư tăng đến trọn đời.” Phật chẳng nhận lời.

Đế-thích lại bạch rằng: “Nếu ngài chẳng nhận cho con trọn đời cung phụng cúng dường, xin nhận cho được 5 năm cúng dường.” Phật cũng chẳng nhận lời.

Đế-thích lại bạch rằng: “Nếu ngài chẳng nhận cho con cung phụng cúng dường trong 5 năm, xin nhận cho được 5 tháng cúng dường.” Phật cũng chẳng nhận lời.

Thiên Đế-thích lại bạch rằng: “Nếu ngài chẳng nhận cho con cung phụng cúng dường trong 5 tháng, xin nhận cho được 5 ngày cúng dường.” Phật liền nhận lời.

Khi ấy, Đế-thích liền dùng thần lực hóa vùng tinh xá Trúc Lâm thành ra cung điện nguy nga đồ sộ giống như cung Tỳ-xà-da trên cõi trời, lại đủ các thứ trang nghiêm cúng dường như giường, ghế, đồ ăn thức uống, y phục, thuốc men... mỗi thứ vật dụng đều làm bằng vàng ròng sáng đẹp. Khi ấy, Đế-thích lại cùng với chư thiên cõi trời hiện xuống tự tay sắp đặt các món vật dụng, thức ăn thức uống, y phục, thuốc men... mà cúng dường Phật với chư tỳ-kheo tăng.

Bấy giờ, vua A-xà-thế đứng trên lầu cao nhìn về phía tinh xá Trúc Lâm, thấy hiện rõ đền đài cung điện, lại thấy Đế-thích cùng với chư thiên cõi trời tự tay sắp đặt các món vật dụng, thức ăn, thức uống, y phục, thuốc men... mà cúng dường Phật với chư tăng. Vua liền sanh lòng hối hận, giận dữ mắng nhiếc Đề-bà-Đạt-đa rằng: “Ngươi thật là người ngu si. Tại sao lại xúi giục ta ban hành chế lệnh chẳng đúng chánh pháp?” Nói lời ấy rồi, liền sanh lòng tin sâu nơi Phật.

Khi ấy quần thần liền tâu lên vua rằng: “Xin Đại vương ban bố chánh lệnh, cho nhân dân từ nay được tùy ý mà cúng dường Phật với chư tỳ-kheo tăng.” Vua liền ban lệnh xuống các quan, sai người đi đánh trống mà rao khắp nước rằng: “Từ nay cho phép nhân dân được tùy ý cúng dường Phật với chư tỳ-kheo tăng.”

Lúc ấy, Phật vì hết thảy mọi người mà thuyết pháp cho nghe. Nghe Phật thuyết pháp xong, trong chúng hội đều thấy tâm ý khai mở, nhiều người được đắc quả Tu-đà-hoàn, có người chứng quả Tư-đà-hàm, A-na-hàm. Lại có người ngay khi đó phát tâm vô thượng Bồ-đề nguyện được quả vị Phật, Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, chư tỳ-kheo thấy việc như vậy liền thưa hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên phước báo nào mà có việc vua trời Đế-thích hiện đến cúng dường hôm nay?”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi nên chú ý lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói.

“Này Chư tỳ-kheo! Về thuở quá khứ, cách nay vô số kiếp, nước Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Bảo Điện, cùng với chư tỳ-kheo đi giáo hóa khắp nơi, đến nước của một vị vua tên là Già-sí. Vua ấy nghe tin Phật đến thì liền cùng với quần thần đều ra nghinh đón, thỉnh Phật ở lại trong thành để cúng dường các món ăn uống, y phục, thuốc men trong ba tháng. Đức Phật liền nhận lời.

Lễ cúng dường rồi, Phật liền vì vua Già-sí mà thuyết pháp mọi lẽ. Vua nghe Pháp rồi phát tâm Bồ-đề, nguyện thành quả Phật. Khi ấy, đức Phật Bảo Điện liền thọ ký cho vua rằng: “Ngươi về sau sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni.”

Phật lại bảo chư tỳ-kheo rằng: “Vua Già-sí thuở ấy chính là ta ngày nay. Quần thần thuở ấy chính là tỳ-kheo các ngươi đó vậy. Nhờ nhân duyên cúng dường, phụng sự đức Phật Bảo Điện thuở ấy, nên trải qua bao kiếp lưu chuyển, ta chẳng bao giờ đọa vào các đường địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, thường hưởng những sự khoái lạc trong cõi trời, cõi người, cho đến ngày nay được quả vị vô thượng Bồ-đề. Cũng vì thế mà khắp trong cõi trời người, ai ai cũng muốn đến cúng dường ta.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 5921)
Có một dòng sông rất đẹp chảy qua núi đồi và đồng cỏ xanh tươị Dòng sông ca hát nhảy nhót tung tăng từ trên núi xuống đồng bằng. Xuống đồng bằng, dòng sông chảy chậm lại, mặt nước trong xanh êm mát.
10/04/2013(Xem: 7723)
Thuở ấy khi vừa bước vào Thiên Đường, Bích Thảo đến đứng trước một cây kỳ lạ, cây vừa là đàn ông vừa là đàn bà. Bích Thảo cúi chào cây một cách kính cẩn và hỏi : "Chào cây, cây có phải là cây của sự sống không?" Nhưng khi có con rắn muốn thay cây trả lời cho chàng thì Bích Thảo quay lưng bỏ đi.
10/04/2013(Xem: 6522)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 24850)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 5291)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 19432)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 22465)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17841)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 6114)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 16206)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.