Lược truyện tiền thân Đức Phật

29/08/201105:02(Xem: 17546)
Lược truyện tiền thân Đức Phật

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòa thượng Thích Đức Niệm
Phật Học Viện Quốc Tế, California, 1998

Mục Lục

Thaylời tựa
01Thái Tử Nhẫn-Nhục-Khải
02Xá-Lợi-Phất Niết Bàn Trước Phật
03Cắt Thịt Nuôi Cha Mẹ
04Thiện Hữu và Ác Hữu
05Hai Nhà Vua Hiền Đức
06Chuyển Luân Thánh Vương
07Vua Chuyển Luân Đảnh-Sanh
08Vì Hiếu Quên Thù
09Kẻ Ngu Hay Cãi
10Chồn Cưới Công Chúa
11Chim Phượng Hoàng
12Nai Cứu Người
13Quốc Vương Hữu-Đức
14Tể Tướng Đại-Điển-Tôn
15Nhẫn Nhục Tiên Nhân
16Người Đệ Tử Cuối Cùng

ThayLời Tựa

Nhân-quả, Luân-hồi,Nghiệp báo là đạo lý căn bản của Phật giáo. Sông biển có thể cạn khô. Mặt trờimặt trăng có thể rơi rụng. Nhưng đạo lý nầy muôn đời không sai. Dù thế pháp hayđạo pháp, tăng hay tục, bất luận hạng người nào, hễ còn vào ra trong sanh tử,trôi lăn trong sáu đường, đắm chìm trong ngũ dục, lặn hụp trong lợi danh dụctình, thì nhất định không cách nào thoát khỏi mãnh lực của luật nhân quả, luânhồi, nghiệp báo chi phối.

Không tin nhân quả,luần hồi, nghiệp báo là tự mình đào sâu hố thẳm thối hóa, tự mình mở cửa tộilỗi, đi vào bóng đêm tăm tối thăm thẳm. Không tin nhân quả, luân hồi, nghiệpbáo là đi ngược luật tiến hóa thiên nhiên, là tự nghiền nát khả nang phát triểnthánh thiện của mình. Ngày xưa, khi đức Phật đanh tĩnh tọa dưới gốc cây, có vịthiên thần đến hỏi Phật: "Bạch đức Thế-Tôn! Trên đời nầy cái gì tăm tốinhất? Cái gì tội lỗi nhất?"

Đức Phật trả lời:"Lòng dạ ngu si không biết phân định chánh tà là tăm tối nhất. Không tinnhân quả, luân hồi, nghiệp báo là nguồn gốc sanh ra tội lỗi nhất".

Có tin nhân quả, luânhồi, nghiệp báo mới thấy được cội nguồn tội phước, mới chuyển bước hướng thiện,mới tìm thấy ánh sáng chân lý cuộc đời, mới giải tỏa được bao nỗi ưu tư thắcmắc của tâm thức, và mới thực sự liễu giải mọi hiện tượng sanh diệt chuyển biếnthịnh suy của thế nhân.

Nhân quả, luân hồi,nghiệp báo bao trùm và chi phối muôn loài vạn vật. Thế nên tất cả những hiệntượng nhân sanh vũ trụ thăng trầm sanh diệt không ngoài luật nhân quả. Tin hiểunhân quả, luân hồi, nghiệp báo là chìa khóa khai mở kho tàng bí ẩn thầm kínthâm sâu của kiếp người, là đài gương quán chiếu giải tích mọi hiện tượng nhânsanh vũ trụ. Một khi đã hiểu rõ và tin sâu đạo lý nhân quả, luân hồi, nghiệpbáo, con người không còn thắc mắc về thân phận mình và hoàn cảnh tha nhân.

Nhân quả, luân hồi,nghiệp báo là quỹ đạo, là mấu chốt cho những hệ quả hiện tượng dây chuyền thiênchuyển biến dịch của các pháp, là hiện trạng hiển hóa sanh sanh diệt diệt thăngtrầm chuyển kiếp của hữu tình chúng sanh đời này sang đời khác. Mọi hiện tượngcủa kiếp người trong vũ trụ thăng trầm tan hợp chỉ là sự thay hình đổi lớp hệlụy theo nghiệp nhân quả báo, chứ bản chất cốt tủy của nó không bao giờ mất.Như sóng biển lặn nơi nầy nổi nơi khác. Nhà bác học Lavoisier (1743-1794) đãnói: "Mọi hiện tượng trên đời không có gì còn mãi, cũng không có gì vĩnhviễn mất".

Đức Phật đã thấu suốtdiệu lý chơn thường của vạn pháp, nên trên đường giáo hóa độ sanh, Ngài đã baolần giải đáp thắc mắc cho thính chúng đệ tử. Ngài thường dẫn chứng đạo lýnghiệp quả, luân hồi, nhân duyên, tiền kiếp. Nhờ đó mà thính chúng thấu rõ mọihiện tượng sinh sinh hóa hóa, giải tỏa nghi hoặc, tiến tu, thể nhập diệu lýĐại-thừa.

Do công đức tu hành màđức Phật có được trí huệ giác ngộ, thấu suốt chân lý vũ trụ nhân sanh. Nhờ giớithể thanh tịnh mà đức Phật có huệ nhãn suốt thấy các kiếp chúng sanh biếnchuyển đổi dời từ thời quá khứ sang thời hiện tại và tiếp diễn đến đời vị lai.Ngài là người bộ hành đã lên đến đỉnh núi giác ngộ, ngồi thưởng thức trăngthanh gió mát với quãng trời giải thoát bao la, rồi nhìn lại quãng đời đầy sôngnúi suối đèo ghềnh thác chông gai mà mình đã trải qua. Ngài thấu suốt tất cảngọn ngành uẩn khúc của kiếp chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi. Trong lúc đó,chúng sanh nghiệp chướng sâu dày, sống trong vô minh vọng thức, tội lỗi chấtchồng. Do tà tâm vọng tưởng, nên phiền não dày vò, phàm tánh cuốn lôi, lạc lốitrong rừng núi thâm u đầy bất trắc. Kiếp người như thuyền nan trong biển cả đầyhiểm nguy không địa bàn để tìm ra định hướng.

Tuy đức Phật đời đờithương xót gọi kêu chúng sanh thức tỉnh, tiếng pháp âm không ngừng vang vọng,nhưng chúng sanh không thúc liễm thân tâm, cứ mải mê say đắm trong ngũ dục lạctrần gian mông huyễn. Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm, đức Phật nói: "Mười phương cácđức Như-Lai đời đời thương xót chúng sanh như mẹ hiền thương con nhỏ, lúc nàocũng muốn giúp đỡ cho con nên người sáng suốt an vui. Nhưng con cứ tìm cáchtrốn tránh mẹ, thì cho dù mẹ có thương con đến mấy đi nữa, cũng không cách nàogiúp đỡ con được. Mẹ tìm con mà con cứ mãi trốn mẹ, thì mẹ con đời đời xacách!" Chư Phật Bồ-Tát luôn luôn mang từ bi trí huệ an lành hướng về chúngsanh, như mặt trời lúc nào cũng trải nguồn sáng ấm cho vạn vật. Nhưng có nhữngvõ cây sanh trong kẹt đá, những sinh vật sống trong rừng thẳm biển sâu thìkhông thể nào tiếp nhận được nguồn sáng ấm của mặt trời.

Kiếp người diễn biếntừ đời này sang đời khác vô cùng tận, như lượn sóng trên đại dương, chỉ có tríhuệ giác ngộ của Phật mới kiểm chứng được số lượng kiếp kiếp. Và chỉ khi nàođạt quả Vô-thượng Bồ-đề mới chấm dứt kiếp luân lưu sanh tử từ thời quá khứ sangthời hiện tại.

Bàng bạc khắp trongtam tạng kinh điển, hằng hà sa số mẩu truyện, đức Phật thường nhắc đến sự liênhệ giữa Ngài và các đệ tử, giữa chúng sanh và Ngài trong những kiếp quá khứ.

Trong tâm nguyện đềnơn giáo hóa muôn một của đức từ phụ Thế-Tôn và cũng để giúp tư liệu cho nhữngai muốn biết phần nào về những kiếp quá khứ của đức Phật, do vậy, tỳ kheo QuêMùa tôi không ngài tài hèn đức bạc, mạo muội soạn dịch một ít truyện trong muônngàn truyện tiền thân của đức Phật, để cống hiến quý hiền giả.

Nơi đây, tôi chânthành tán thán công đức Phật tử Trần-Hải-Hùng - Pháp danh Chơn Lạc, vàVương-Mỹ-Linh - Pháp danh Diệu Tâm, đã phát tâm Bồ-đề hiến cúng tịnh tài để chotậpLược Truyện Tiền Thân Đức Phật nầy đủ duyên tái bản hầu kết thiện duyênBồ-đề cùng bạn lành bốn phương.

Nguyện đem công đứcnầy cầu nguyện Phật tử Chơn Lạc và Diệu Tâm cùng gia đình thường được bình an,đồng thời hồi hướng đến tứ trọng ân và pháp giới chúng sanh đều được an lành,sớm phát tâm Bồ-đề quy-y Tam-Bảo, liễu ngộ chánh pháp Đại-thừa, đạt thành đạoquả giải thoát.

Hoa-Kỳ, Vu-Lan Mậu Dần- 1998
Thích Đức Niệm

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 29697)
Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.
29/03/2013(Xem: 11557)
Chuyến hành hương Thái Lan và Nhật Bản bắt đầu từ ngày 22 tháng 10 đến mùng năm tháng 11 năm 2012, vào một sáng mùa thu với nắng vàng ươm và se se gió lạnh. Có ai biết con số ghi tên tham dự chuyến hành hương Nhật Bản này lên đến bao nhiêu không? Trước giờ khóa sổ vào đầu tháng 10 là hơn một trăm vị, sau rút lui từ từ để dừng lại con số 85 với 14 quốc gia trên thế giới. Một con số đáng ngại trong lịch sử đi hành hương của quý Thầy.
20/03/2013(Xem: 5052)
Tác giả sinh năm 1937, 63 tuổi, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts. Công việc: Technician hãng điện tử ở Mass. Sau đây là bút ký về California lãnh Giải Thưởng do ông Luận viết. Bài đã phổ biến trong sách VVNM 2001, nhưng “mất tích” trên Việt Báo Online. Xin mời cùng đọc lại. Hình trên, từ trái: Thượng Nghị Sĩ California, Ông Joe Dunn và các viên chức dân cử khai mạc cuộc họp mặt. Phía trái là nữ nghệ sĩ Kiều Chinh. Phía mặt là cô Leyna Nguyen của truyền hình KCAL9.
19/03/2013(Xem: 13384)
Tập truyện “ Làng Cũ - Người Xưa” của Tiền Vĩnh Lạc (Australia) .Sách dầy 216 trang, bìa cứng 4 màu. Bìa trước cảnh nhóm chợ chồm hỗm ở làng quê tỉnh Trà Vinh. Bìa sau hình xe thổ mộ, ngưa kéo, tác giả gọi là “xe kiếng”? Nội dung gồm nhiều truyện ngắn, hồi ký, tài liệu quý giá...cùng nhiều kinh nghiệm sống viết ra ý chừng muốn khuyên răn con cháu, sách đọc thú vị và cần thiết để làm tài liệu nghiên cứu. Sách không bán, in để tặng . Ai cần xin gọi 618-8932- 3912
10/03/2013(Xem: 4031)
Nước Xá Vệ có cô gái nghèo tên Nan Đà, thân thế cô độc thân, sống bằng nghề ăn xin. Bấy giờ, cô thấy các vị vua chúa, quan đại thần, trưởng giả cúng dường Phật và chư Tăng, cô tự nghĩ: “Ta mắc tội báo gì mà sinh vào nhà bần tiện như thế này nên không thể cúng dường đấng phước điền?”. Cô tự hối trách lấy mình.
04/03/2013(Xem: 8793)
Theo lời Hòa Thượng trưởng lão Huyền Tôn kể rằng, những ngày Hòa Thượng còn ở quê nhà, nơi Tổ đình Thiên Ấn – miền Trung, có một chú sa di tên Diệu Mãn. Thường nhật Chú chỉ làm công việc quét chùa. Chú người hiền lành, ít nói, tánh tình ngồ ngộ. Đặc biệt trong chúng, ai nhờ việc gì đều hoan hỷ làm ngay. Cũng chính vì vậy, chú thường bị quí sư huynh đệ la rầy, sao đang làm việc này lại bỏ đi làm việc kia… Tuy vậy, nhưng lúc nào chú cũng hoan hỷ, không ai thấy chú câu chấp việc gì bao giờ.
20/02/2013(Xem: 23832)
Những Câu Chuyện Linh Ứng về Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát (trọn bộ 03 tập) do HT Thích Như Điển dịch Việt: Năm 2007 khi chúng tôi đang nhập thất tại Úc Châu thì có một Phật Tử tên là Huỳnh Hiệp từ Hoa Kỳ có liên lạc qua bằng E-mail cho Thầy Hạnh Tấn và nhờ tôi phiên dịch tác phẩm "Những mẩu chuyện linh ứng của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Fuchù - Nhật Bản“ từ tiếng Nhật sang tiếng Việt. Tôi bảo cứ gởi một số chuyện tiêu biểu sang Úc, tôi dịch thử. Nếu đồng ý với cách dịch ấy thì tôi sẽ tiếp tục. Sau một tuần lễ, tôi gởi trở lại 3 chuyện đầu đã dịch của quyển một cho Phật Tử nầy và anh ta rất hoan hỷ và nhờ tôi dịch tiếp cho đến hết quyển sách. Tôi trả lời rằng: "Tôi rất sẵn sàng; nhưng tôi rất ít thì giờ; khi nào xong tôi chưa biết; nhưng tôi sẽ cố gắng. Đồng thời việc đánh máy sẽ giao cho các anh chị em thực hiện". Cầm quyển sách trên tay độ 400 trang A4 thấy cũng hơi nhiều; nhưng thôi, cứ cố gắng vậy. Ông bà mình thường nói: „Kiến tha lâu đầy tổ“ quả câu nầy chẳng sai chút nào.
01/02/2013(Xem: 10474)
Tuổi Hồng Con Gái là tác phẩm đầu đời của tôi được viết vào năm 1980 cùng thời gian với tấm ảnh ngoài bìa sách. Tuy lúc đó sống ngay trên quê hương Việt Nam với dân số đông đảo mấy chục triệu người nhưng xung quanh tôi, vì hoàn cảnh hết sức đặc biệt, tôi không có lấy một người bạn, một người thân để tâm tình những lúc vui, buồn trong cuộc sống.
26/01/2013(Xem: 21836)
Cận cảnh tượng cụ Nguyễn Du bằng gỗ gù hương khủng ở Việt Nam
01/01/2013(Xem: 7222)
Ngày tôi còn học Y Khoa, ở khu Sản khoa thời đó ở miền Nam Việt Nam chỉ cho phép làm “abortion therapeutique”, với chữ ký cuả 3 vị Thầy đồng ý phải bỏ thai nhi để cứu mạng sản phụ. Và đây là chuyện rắc rối mà tôi đã gặp phải sau 1975 Anh chị M., đối với tôi là một cặp vợ chồng có tư cách rất đáng qúy, tôi luôn xem hai người như anh chị ruột của mình. Anh M., một Phật tử thuần thành, lớn hơn tôi 10 tuổi, tốt nghiệp đại học bên Pháp, là một người sống nhiệt thành vì lý tưởng, lập gia đình trễ, từng giữ chức vụ khá lớn thời Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1980, khi mới ở tù cộng sản ra, tôi là người đưa chị M. đến nhà thương sanh con gái đầu lòng – cháu Phương Thanh (tên đã được thay đổi, không phải tên thật)