Dốc mơ đồi mộng

28/08/201116:52(Xem: 5061)
Dốc mơ đồi mộng

lotus_5
Diệu Nga

DỐC MƠ ĐỒI MỘNG

Tu Viện Trúc Lâm Canada Xuất Bản PL. 2547 DL. 2003
MỤC LỤC

Lời Giới Thiệu
Mùa Hoa Năm Nào 01

Sống

Vườn Cải Hoa Vàng

Bện Nan Y

Sư Ông và Lãng Tử 05

Hữu Công Hữu Tội

Bức Tranh Phù Thủy

Những Giọt Lệ Hồng

Hai Cha Con

Tiếng Gọi 10

Mẹ Tôi

Khai Bút

Xuân Tâm

Họa Phúc Trùng Trùng

Dốc Mơ Đồi Mộng 15

Phụ Trương - Phật Mẫu

Phụ Trương - Sống Tức Là Tương Quang 17



Lời Giới Thiệu

Tôi tình cờ gặp lại chị Diệu Nga vào dịp lễ Phật Đản năm 2003 tại chùa An Lạc, San Jose, sau mười lăm năm kể từ ngày chị và gia đình rời thành phố Calgary, Canada để sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ. Sau khi hàn huyên đôi chuyện xa gần, chị mở lời muốn in lại các bài viết ngắn của chị đã được đăng trên một số đặc san, nguyện san Phật giáo ở hải ngoại thành một tuyển tập, và nhờ tôi viết lời giới thiệu. Tuyển tập này lấy tên “Dốc Mơ Đồi Mộng” mà chị dự định ấn hành vào cuối năm 2003. Tôi hoan hỷ nhận lời không chút do dự. Vậy mà từ khi nhận tập tài liệu, tôi lại bận rộn với nhiều Phật sự đây đó, giam quyển sách của chị gần một năm trường, bây giờ cuối năm 2004 mới chuẩn bị đem ra đánh máy để in, thành thật cáo lỗi cùng chị…

Tôi còn nhớ mùa hè năm 1988, trước khi gia đình chị Diệu Nga rời Canada, chị đã mang đến Tu Viện Trúc Lâm một bản thảo của quyển kinh “Bát Nhã Cương Yếu” để nhờ “Việt Publisher” ấn hành. Nhà in “Việt Publisher” mới vừa khai trương được hơn một tháng, do một nhóm anh em trong Gia Đình Phật Tử Thiện Tâm lập nên. Họ là những thành viện của Tu Viện Trúc Lâm, nên tôi cũng được tham gia duyệt lại bản thảo đó. Dù chưa quen thân với chị Diệu Nga, nhưng tôi cũng cảm nhận được lòng nhiệt thành của một vị nữ cư sĩ hiếu đạo. Được biết lúc bấy giờ việc ấn loát một bản văn chữ Việt vẫn còn rất khó khăn và khá tốn kém. Trong khi chị mới vừa đặt chân đến Canada chỉ trước tôi một vài năm, việc làm, lương bổng chắc chắn vẫn còn eo hẹp, vậy mà chị đã góp nhóp số tiền dành dụm của gia đình, và một số ít của bạn bè thân thiết, phát tâm làm công việc ấn tống này. Quả tình tôi rất khâm phục. Tôi hỏi chị: quyển sách này có phải do chị viết không? – dạ không, đây là loại sách biên khảo rất công phu, nghiên cứu toàn bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 quyển do Sư Bà Ni Trưởng Thích Nữ Như Thanh (hiệu Hồng Ẩn) bỏ công nhiều năm soạn thành bộ cương yếu này. Rất tiếc lúc ấy nhà nước cộng sản vừa chiếm miền Nam nên không cho phép in ấn bất cứ một loại kinh sách nào. Con đã xin nhận lãnh sứ mạng của Sư phụ đem bộ kinh này ra hải ngoại để kịp thời phổ biến, kẻo nó bị mai một, chị trả lời câu hỏi. Lúc đó tôi tự nghĩ, kinh “Đại Bát Nhã” là một bộ kinh mà áo nghĩa vô cùng thâm sâu, không dễ gì một vị tu sĩ bình thường mà có thể mò mẫm vào được cánh cửa chơn không diệu hữu của triết lý tánh không, hay “Đại Bát Nhã Trí Tuệ” u huyền này. Như thế thì việc phổ biến một quyển kinh thật khúc mắc, khó hiểu trong lúc này tại hải ngoại thực sự có lợi ích gì cho độc giả không? Dường như chị cũng có cùng cảm nghĩ nên không để tôi hỏi, chị tự trả lời: - Đó là tài liệu khổ công rất nhiều của Sư phụ con trong lúc tuổi quá già; con chỉ muốn sư phụ được nhìn thấy nó khi Sư phụ còn sống; đồng thời cũng để đóng góp vào kho tàng chánh pháp của nhân gian một tài liệu quý báu, một tác phẩm trọng yếu cho người học Phật, hay cho những bậc thức giả khát khao, muốn khám phá kho tàng “Diệu Trí” của chư Phật, tôi khẻ mỉm cười đồng tình với chị…

Rồi từ đó mất liên lạc. Thỉnh thoảng, tôi có dịp đọc một số bài viết đăng tải trên các đặc san, nguyện san Phật giáo ở hải ngoại với bút hiệu “Diệu Nga” là pháp danh của chị, tôi nghĩ không biết đó có phải là chị hay không. Cho đến một hôm, khi nhận được quyển “Giọt Lệ Như Sương” của Diệu Nga do Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản lần đầu và gửi tặng, trong đó có ít bài tôi đã đọc được trên các báo, mới hay đó chính là bài viết của chị. Những câu chuyện tản mạn này tuy ngắn nhưng lại làm cho nhiều người cảm xúc, tỉnh ngộ, thích thú, đón nhận nó thật nồng nhiệt như một loại giáo lý nhân gian dễ hiểu, không cần động não, có lẽ vì tình chất bình dị và có lý tưởng của nó.

Đọc hết những mẩu truyện ngắn trong tuyển tập “Dốc Mơ Đồi Mộng” của Diệu Nga, tôi có cảm tưởng chị đã đem cả tâm hồn mình để hòa quyện trong cái lý tưởng thương đời, mến đạo của chị. Đã trải hết tâm tư mình dệt thành một bức tranh với những màu sắc linh động như thật, như hư, như mơ, như mộng, khi thăng khi trầm, chợt ẩn, chợt hiện trong cái chân lý sống thực của thế gian: có, không, vô thường, vô ngã và đau khổ. Mỗi cốt chuyện đều có sức lôi cuốn đặc biệt. Lôi cuốn ở đây không có nghĩa là vì nó éo le tình tiết như những thiên tiểu thuyết tình cảm ướt át, hoặc những chuyện hư cấu đầy kịch tính của tiểu thuyết kiếm hiệp. Mà mỗi câu chuyện được kể đều là những ước vọng đơn sơ, rất thường tình trong cái hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục, còn phủ trùm bởi phiền não vô minh. Kết thúc mỗi câu chuyện chị thường cho người đọc cái cảm quan trong tỉnh thức để nhận diện nó với chính nhân sinh quan của mình. Hương liệu của những vị mặn, chát, chua, cay, đắng, ngọt của cuộc đời còn được chị xem là cốt lõi của triết lý sống. Đối đãi, phân biệt là trò chơi của nhơn gian, ai chấp nhận nó là phải chấp nhận tất cả những quy luật của thế gian. Tuy nhiên trên quy luật của thế gian còn có một thứ quy luật bình đẳng chưa hề tha thứ cho một ai đó là “Luật Nhân Quả”. Chính điều đó mà con người mới có lý tưởng để đeo đuổi, có hạnh phúc để xây dựng, để nhìn đời chứ, phải không quý vị?

Tuyển tập “Dốc Mơ Đồi Mộng” này tuy không thâm uyên như “Bát Nhã Cương Yếu” mà chị đã bỏ rất nhiều thì giờ, công sức để đáp đền ơn Sư phụ. Nhưng nó có một công năng chuyển hóa rất lớn đối với những mảnh đời trôi dạt biển khơi. Trong đêm đen tăm tối, nhìn được cây “Đèn Bão” lung linh trước gió cũng định được bến bờ. Tôi vẫn thấy giá trị đồng bản thể của nó với “Bát Nhã Cương Yếu” không khác chút nào. Vì vậy, để trân trọng giới thiệu đến các bạn độc giả xa gần, tôi chỉ xin quý vị thử rảo bước vào thế giới “Dốc Mơ Đồi Mộng” của tác giả Diệu Nga thì sẽ cảm nhận được trọn vẹn cái hương vị của nó.

Quý đông, năm Giáp Thân 2004

Thích Thiện Tâm



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6414)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13390)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5055)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6272)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6318)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14205)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5908)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19177)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4722)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17413)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.