Người lái buôn và con lừa

11/11/201017:22(Xem: 6541)
Người lái buôn và con lừa
 

donkeyCó lần Đức Phật kể cho các vị Tỳ- kheo nghe một câu chuyện tiền thân như sau:

Ngày xưa có một vị lái buôn tên là Kappata. Ông có một con lừa chuyên chở hàng gốm, mỗi ngày ông thường đi một cuộc hành trình dài bảy lý (khoảng 30km). Một dịp nọ Kappata chất hàng hoá lên lưng lừa và đi đến Takkasila. T
rong khi bận rộn sắp xếp những hàng hoá bày ra bán, ông để cho con lừa được chạy đi rông thoải mái. Khi chú lừa lang thang dọc theo bờ mương, chú nhìn thấy một chị lừa cái và chạy thẳng đến cô nàng. Chị lừa cái cho anh ta một một lời chào rất thân thiện và nói:
- “Anh từ đâu đến?”
-“Từ Ba-na-nại (Benares)”
-“Về việc gì?”
-“Mua bán.”
-“Anh mang khối hàng lớn bao nhiêu?”
-“Một khối hàng gốm lớn.”
-“Mang một khối hàng lớn như thế anh đi được bao nhiêu lý?”
-“Bảy lý.”
-“Những nơi khác anh đến, có ai bóp chân và đấm lưng cho anh không?”
-“Không.”
-“Nếu vậy thì anh hẵn đã phải trải qua một thời giancực kỳ gian khổ đấy nhỉ!”
Vì lời nói của cô nàng, mà chú lừa trở nên bất mãn. Sau khi người lái buôn đã sắp xếp xong hàng hoá của mình, ông trở lại với chú lừa và nói với nó:
-“Này con, Jack, chúng ta hãy đi về.”
-“Ông đi một mình đi, tôi không đi đâu.”
Bằng những lời dịu dàng, người lái buôn cố gắng thuyết phục chú lừa nhiều lần; và khi, bất chấp những cố gắng của ông, chú lửa vẫn giữ thái độ bướng bĩnh, ông quở trách nó. Cuối cùng ông nghĩ trong bụng, “Ta biết có cách làm cho nó đi.”Và nói lên bài kệ sau:
Ta sẽ làm gậy gọn
Mũi gai mười sáu inh (-xơ)
Cắt mi thành từng miếng;
Biết điều hỡi lừa kia.
Khi nghe như thế, chú lừa nghĩ, “ Nếu vậy thì tôi sẽ biết cách phải làm gì với ông.”Và nó cũng đáp lại bằng bài kệ sau:
Ông nói làm gậy nhọn,
Mũi gai mười sáu inh (-xơ)
Được lắm!
Tôi sẽ chống chân trước,
Tung bổng hai chân sau,
Hất ông ngã gãy răng;
Biết điều, hỡi Kappata.
Khi người lái buôn nghe thế, ông tự nghĩ, “ Lý do gì khiến hắn nói như thế?”Người lái buôn nhìn tới nhìn lui, và cuối cùng ông thấy con lừa cái, “ À té ra,“ ông lái buôn nghĩ bụng, “Cô nàng chắc hẳn đã dạy cho nó những mánh lới này đây!”Ta sẽ nói với lừa, “Này con, ta sẽ mang về nhà cho con một cô vợ giống thế.”Như vậy, nhờ dùng miếng mồi nữ nhân, ta sẽ làm cho hắn đi.
Do đó ông tuyên bố bài kệ sau:
Một chị lừa cái mặt như ngọc
Có tất cả tướng của mỹ nhân.
Ta sẽ cho con để làm vợ,
Hãy biết điều này, hỡi lừa kia.
Khi chú lừa nghe nói vậy, lòng nó vô cùng hân hoan, và trả lời chủ bằng bài kệ:
Lừa cái, mặt như ngọc
Đầy đủ tướng mỹ nhân,
Cho tôi làm vợ sao!
Vậy thì, Kappata
Trước giờ đi bảy lý,
Sau này sẽ tăng lên
Mười bốn lý một ngày!
“Tốt lắm!”Kappata nói, “Hãy đến đây!”Và ông dắt lừa cùng đi với ông trở lại chỗ để xe.
Sau vài ngày con lừa nói với ông, “Chẳng phải là ông đã nói với tôi ta sẽ mang về cho con một người vợ sao?”
Người lái buôn trả lời, “Đúng ta có nói như thế, và ta sẽ không nuốt lời hứa; ta sẽ mang về nhà cho con một cô vợ. Nhưng phải nhớ là ta sẽ chỉ cung cấp thức ăn cho một mình con. Thức ăn ấy, có thể đủ hoặc cũng có thể không đủ cho cả hai, con và vợ con, nhưng đó là vấn đề tự con quyết định. Sau khi hai đứa sống với nhau, những chú lừa con sẽ được sinh ra. Thức ăn ta cung cấp cho con cũng có thể đủ hoặc không đủ cho hai vợ chồng và con cái của con đâu đấy, nhưng vấn đề tuỳ thuộc một mình con quyết định.”
Khi người lái buôn nói những lời ấy, chú lừa mất hết cả hứng thú.
Vào cuối câu chuyện, Đức Phật nói rằng người lái buôn lúc ấy chính là Ngài, chú lừa là Nanda, và chị lừa cái là Janapadakayani, người vợ sắp cưới của của Nanda.
Theo: Vượt qua chướng ngại
Tác giả: Pa Auk Sayadaw

Nguồn: timhieudaophat.com

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30016)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25165)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9728)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5833)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4007)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4756)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4242)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3949)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15012)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5325)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.