Người lái buôn và con lừa

11/11/201017:22(Xem: 6580)
Người lái buôn và con lừa
 

donkeyCó lần Đức Phật kể cho các vị Tỳ- kheo nghe một câu chuyện tiền thân như sau:

Ngày xưa có một vị lái buôn tên là Kappata. Ông có một con lừa chuyên chở hàng gốm, mỗi ngày ông thường đi một cuộc hành trình dài bảy lý (khoảng 30km). Một dịp nọ Kappata chất hàng hoá lên lưng lừa và đi đến Takkasila. T
rong khi bận rộn sắp xếp những hàng hoá bày ra bán, ông để cho con lừa được chạy đi rông thoải mái. Khi chú lừa lang thang dọc theo bờ mương, chú nhìn thấy một chị lừa cái và chạy thẳng đến cô nàng. Chị lừa cái cho anh ta một một lời chào rất thân thiện và nói:
- “Anh từ đâu đến?”
-“Từ Ba-na-nại (Benares)”
-“Về việc gì?”
-“Mua bán.”
-“Anh mang khối hàng lớn bao nhiêu?”
-“Một khối hàng gốm lớn.”
-“Mang một khối hàng lớn như thế anh đi được bao nhiêu lý?”
-“Bảy lý.”
-“Những nơi khác anh đến, có ai bóp chân và đấm lưng cho anh không?”
-“Không.”
-“Nếu vậy thì anh hẵn đã phải trải qua một thời giancực kỳ gian khổ đấy nhỉ!”
Vì lời nói của cô nàng, mà chú lừa trở nên bất mãn. Sau khi người lái buôn đã sắp xếp xong hàng hoá của mình, ông trở lại với chú lừa và nói với nó:
-“Này con, Jack, chúng ta hãy đi về.”
-“Ông đi một mình đi, tôi không đi đâu.”
Bằng những lời dịu dàng, người lái buôn cố gắng thuyết phục chú lừa nhiều lần; và khi, bất chấp những cố gắng của ông, chú lửa vẫn giữ thái độ bướng bĩnh, ông quở trách nó. Cuối cùng ông nghĩ trong bụng, “Ta biết có cách làm cho nó đi.”Và nói lên bài kệ sau:
Ta sẽ làm gậy gọn
Mũi gai mười sáu inh (-xơ)
Cắt mi thành từng miếng;
Biết điều hỡi lừa kia.
Khi nghe như thế, chú lừa nghĩ, “ Nếu vậy thì tôi sẽ biết cách phải làm gì với ông.”Và nó cũng đáp lại bằng bài kệ sau:
Ông nói làm gậy nhọn,
Mũi gai mười sáu inh (-xơ)
Được lắm!
Tôi sẽ chống chân trước,
Tung bổng hai chân sau,
Hất ông ngã gãy răng;
Biết điều, hỡi Kappata.
Khi người lái buôn nghe thế, ông tự nghĩ, “ Lý do gì khiến hắn nói như thế?”Người lái buôn nhìn tới nhìn lui, và cuối cùng ông thấy con lừa cái, “ À té ra,“ ông lái buôn nghĩ bụng, “Cô nàng chắc hẳn đã dạy cho nó những mánh lới này đây!”Ta sẽ nói với lừa, “Này con, ta sẽ mang về nhà cho con một cô vợ giống thế.”Như vậy, nhờ dùng miếng mồi nữ nhân, ta sẽ làm cho hắn đi.
Do đó ông tuyên bố bài kệ sau:
Một chị lừa cái mặt như ngọc
Có tất cả tướng của mỹ nhân.
Ta sẽ cho con để làm vợ,
Hãy biết điều này, hỡi lừa kia.
Khi chú lừa nghe nói vậy, lòng nó vô cùng hân hoan, và trả lời chủ bằng bài kệ:
Lừa cái, mặt như ngọc
Đầy đủ tướng mỹ nhân,
Cho tôi làm vợ sao!
Vậy thì, Kappata
Trước giờ đi bảy lý,
Sau này sẽ tăng lên
Mười bốn lý một ngày!
“Tốt lắm!”Kappata nói, “Hãy đến đây!”Và ông dắt lừa cùng đi với ông trở lại chỗ để xe.
Sau vài ngày con lừa nói với ông, “Chẳng phải là ông đã nói với tôi ta sẽ mang về cho con một người vợ sao?”
Người lái buôn trả lời, “Đúng ta có nói như thế, và ta sẽ không nuốt lời hứa; ta sẽ mang về nhà cho con một cô vợ. Nhưng phải nhớ là ta sẽ chỉ cung cấp thức ăn cho một mình con. Thức ăn ấy, có thể đủ hoặc cũng có thể không đủ cho cả hai, con và vợ con, nhưng đó là vấn đề tự con quyết định. Sau khi hai đứa sống với nhau, những chú lừa con sẽ được sinh ra. Thức ăn ta cung cấp cho con cũng có thể đủ hoặc không đủ cho hai vợ chồng và con cái của con đâu đấy, nhưng vấn đề tuỳ thuộc một mình con quyết định.”
Khi người lái buôn nói những lời ấy, chú lừa mất hết cả hứng thú.
Vào cuối câu chuyện, Đức Phật nói rằng người lái buôn lúc ấy chính là Ngài, chú lừa là Nanda, và chị lừa cái là Janapadakayani, người vợ sắp cưới của của Nanda.
Theo: Vượt qua chướng ngại
Tác giả: Pa Auk Sayadaw

Nguồn: timhieudaophat.com

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/06/2010(Xem: 15170)
Cô Sue Dixon, một Phật tử người Úc, vướng phải căn bệnh hiểm nghèo, ung thư ngực, trong lúc dường như phải bó tay và hoàn toàn tuyệt vọng thì các Tăng sĩ Tây Tạng đã hướng dẫn phương pháp Thiền quán. Tuyệt vời thay, không lâu sau đó, cô bình phục và khỏe mạnh như xưa. Bài viết dưới đây, cô sẽ kể cho đọc giả biết quá trình loại bỏ bệnh ung thư như thế nào
02/06/2010(Xem: 5173)
Đó là ngày 26 Tháng 10 năm 1967. Tôi đang bay ngay trên bầu trời trung tâm Hà Nội đan chéo đầy hỏa tiễn trong phi vụ thứ 23 của mình, thì bị một hỏa tiễn Nga kích thước cỡ cột điện thoại bắn tung cánh phải chiếc Skyhawk ném bom tôi bay. Phi cơ bổ nhào từ cao độ khoảng 4,500 feet xuống đất, bị đảo ngược lại, gần như chúi thẳng đầu xuống đất. Tôi kéo cần bung dù thoát hiểm. Lực phóng làm tôi bị bất tỉnh vì tốc độ gió đâu khoảng 500 knot (chú thích người dịch: 926 km/giờ). Lúc đó tôi không nhận thức được, nhưng chân phải ngay quanh đầu gối và ba nơi trên cánh tay phải cùng cánh tay trái của tôi đã bị gãy. Tôi tỉnh lại ngay trước khi cánh dù của tôi rơi xuống một hồ nước ngay một góc của Hà Nội, một trong những hồ họ gọi là Hồ Tây. Mũ phi công và mặt nạ dưỡng khí của tôi đã bị thổi bay đâu mất. Tôi chạm mặt nước và bị chìm xuống đáy. Tôi nghĩ rằng hồ sâu khoảng 15 feet, cũng có thể 20. Tôi chòi chân phía dưới để nổi lên mặt nước. Lúc đó tôi không cảm thấy bất kỳ đau đớn nào. Tôi hít một
03/04/2010(Xem: 6550)
Đạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Đan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết. Rốt cuộc, danh Ngài thấu đến cửu trùng, vua thỉnh Ngài trụ trì hai chùa Pháp Thường và Linh Nguyên, ban hiệu là Định Huệ Minh Quang Phật ĐảnhQuốc Sư. Những khi nhàn rỗi, Ngài xem lại gương xưa góp nhặt những di ngôn, vãng hạnh của Phật Tổ và thêm vào đó lời phẩm bình biên tập lại thành bộ Truy Môn Bảo Tạng Tập (trong bản dịch nầy tạm lấy nhan đề là Kho Báu Nhà Thiền). Bộ sách nầy thật là cây đuốc huệ trong đường tăm tối, là thuốc hay cho người bệnh, chẳng những lợi cho người đương thời mà cũng là tiếp độ kẻ hậu côn, thật không có gì hơn vậy. Than ôi! Vào niên hiệu Bảo Vĩnh vì ảnh hưởng thời cuộc nên đâu có khắc bản và muốn lưu hàn
21/02/2010(Xem: 8295)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.