Người lái buôn và con lừa

11/11/201017:22(Xem: 6626)
Người lái buôn và con lừa
 

donkeyCó lần Đức Phật kể cho các vị Tỳ- kheo nghe một câu chuyện tiền thân như sau:

Ngày xưa có một vị lái buôn tên là Kappata. Ông có một con lừa chuyên chở hàng gốm, mỗi ngày ông thường đi một cuộc hành trình dài bảy lý (khoảng 30km). Một dịp nọ Kappata chất hàng hoá lên lưng lừa và đi đến Takkasila. T
rong khi bận rộn sắp xếp những hàng hoá bày ra bán, ông để cho con lừa được chạy đi rông thoải mái. Khi chú lừa lang thang dọc theo bờ mương, chú nhìn thấy một chị lừa cái và chạy thẳng đến cô nàng. Chị lừa cái cho anh ta một một lời chào rất thân thiện và nói:
- “Anh từ đâu đến?”
-“Từ Ba-na-nại (Benares)”
-“Về việc gì?”
-“Mua bán.”
-“Anh mang khối hàng lớn bao nhiêu?”
-“Một khối hàng gốm lớn.”
-“Mang một khối hàng lớn như thế anh đi được bao nhiêu lý?”
-“Bảy lý.”
-“Những nơi khác anh đến, có ai bóp chân và đấm lưng cho anh không?”
-“Không.”
-“Nếu vậy thì anh hẵn đã phải trải qua một thời giancực kỳ gian khổ đấy nhỉ!”
Vì lời nói của cô nàng, mà chú lừa trở nên bất mãn. Sau khi người lái buôn đã sắp xếp xong hàng hoá của mình, ông trở lại với chú lừa và nói với nó:
-“Này con, Jack, chúng ta hãy đi về.”
-“Ông đi một mình đi, tôi không đi đâu.”
Bằng những lời dịu dàng, người lái buôn cố gắng thuyết phục chú lừa nhiều lần; và khi, bất chấp những cố gắng của ông, chú lửa vẫn giữ thái độ bướng bĩnh, ông quở trách nó. Cuối cùng ông nghĩ trong bụng, “Ta biết có cách làm cho nó đi.”Và nói lên bài kệ sau:
Ta sẽ làm gậy gọn
Mũi gai mười sáu inh (-xơ)
Cắt mi thành từng miếng;
Biết điều hỡi lừa kia.
Khi nghe như thế, chú lừa nghĩ, “ Nếu vậy thì tôi sẽ biết cách phải làm gì với ông.”Và nó cũng đáp lại bằng bài kệ sau:
Ông nói làm gậy nhọn,
Mũi gai mười sáu inh (-xơ)
Được lắm!
Tôi sẽ chống chân trước,
Tung bổng hai chân sau,
Hất ông ngã gãy răng;
Biết điều, hỡi Kappata.
Khi người lái buôn nghe thế, ông tự nghĩ, “ Lý do gì khiến hắn nói như thế?”Người lái buôn nhìn tới nhìn lui, và cuối cùng ông thấy con lừa cái, “ À té ra,“ ông lái buôn nghĩ bụng, “Cô nàng chắc hẳn đã dạy cho nó những mánh lới này đây!”Ta sẽ nói với lừa, “Này con, ta sẽ mang về nhà cho con một cô vợ giống thế.”Như vậy, nhờ dùng miếng mồi nữ nhân, ta sẽ làm cho hắn đi.
Do đó ông tuyên bố bài kệ sau:
Một chị lừa cái mặt như ngọc
Có tất cả tướng của mỹ nhân.
Ta sẽ cho con để làm vợ,
Hãy biết điều này, hỡi lừa kia.
Khi chú lừa nghe nói vậy, lòng nó vô cùng hân hoan, và trả lời chủ bằng bài kệ:
Lừa cái, mặt như ngọc
Đầy đủ tướng mỹ nhân,
Cho tôi làm vợ sao!
Vậy thì, Kappata
Trước giờ đi bảy lý,
Sau này sẽ tăng lên
Mười bốn lý một ngày!
“Tốt lắm!”Kappata nói, “Hãy đến đây!”Và ông dắt lừa cùng đi với ông trở lại chỗ để xe.
Sau vài ngày con lừa nói với ông, “Chẳng phải là ông đã nói với tôi ta sẽ mang về cho con một người vợ sao?”
Người lái buôn trả lời, “Đúng ta có nói như thế, và ta sẽ không nuốt lời hứa; ta sẽ mang về nhà cho con một cô vợ. Nhưng phải nhớ là ta sẽ chỉ cung cấp thức ăn cho một mình con. Thức ăn ấy, có thể đủ hoặc cũng có thể không đủ cho cả hai, con và vợ con, nhưng đó là vấn đề tự con quyết định. Sau khi hai đứa sống với nhau, những chú lừa con sẽ được sinh ra. Thức ăn ta cung cấp cho con cũng có thể đủ hoặc không đủ cho hai vợ chồng và con cái của con đâu đấy, nhưng vấn đề tuỳ thuộc một mình con quyết định.”
Khi người lái buôn nói những lời ấy, chú lừa mất hết cả hứng thú.
Vào cuối câu chuyện, Đức Phật nói rằng người lái buôn lúc ấy chính là Ngài, chú lừa là Nanda, và chị lừa cái là Janapadakayani, người vợ sắp cưới của của Nanda.
Theo: Vượt qua chướng ngại
Tác giả: Pa Auk Sayadaw

Nguồn: timhieudaophat.com

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6218)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23177)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4705)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18101)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21661)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17021)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5705)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15335)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 20887)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8233)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.