Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.

04/03/201101:20(Xem: 10077)
Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.


Han Son Thap Dac

Câu chuyện thuở xưa của
Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.


HT. Thích Huyền Tôn dịch

Ngài Hàn-Sơn : Trong thế gian mà bị người phỉ báng, khi dễ , nhục mạ, cười chê, khinh khi , chà đạp,  ghen ghét , đè bẹp, đố kị ta. Như thế, ta phải xử trị cách nào ?

Ngài Thập-Đắc trả lời : Thản nhiên vì họ mà nhẫn, mà nhường,  mà cung kính, là trọng tự do của họ,  mà tránh đi, cuối cùng đừng để ý tới họ nữa. Chờ vài năm sau sẽ gặp họ.

Hàn-Sơn lại hỏi : Họ vẫn giữ quyết liệt như vậy ! Có thể trốn núp được chăng ?

Ngài Thập-Đắc nói : " Tôi đã từng thuộc Bài Kệ của Bồ-Tát Di-Lặc. Bạn lắng nghe ! Tôi vì Bạn mà niệm bài kệ :


  Hán ngữ    

Việt ngữ

Lão chuyết xuyên nạp áo

Lão mặc chiếc áo nạp.

Đạm phạn phúc trung bảo

 Cơm lạt một bụng no,

Bổ phá hảo giá hàn

 Áo rách che giá lạnh,

Vạn sự tùy duyên liễu

 Muôn việc tự theo duyên.

Hữu nhơn mạ lão chuyết

Có người mắng đuổi lão,

Lão chuyết chỉ thuyết "Hảo"

 Chạy ù lão nói "Tốt",

Hữu nhơn đả lão chuyết

 Có người ví đánh lão,

Lão chuyết tự thùy đảo

Lão té, ngủ giấc dài.

Thế thóa tại diện thượng

 Chê bai khạt trước mặt,

Tùy tha tự càn liễu

Cứ để tự nó khô,

Ngã dã tỉnh lực khí

 Ta đầy đủ năng lực,

Tha nhơn vô não phiền

 Người khác không não phiền,

Giá dạng Ba-La-Mật

 Đó là đến-Bờ-Giác,

Tiện thị diệu trung bảo

 Của báu trong nhiệm mầu,

Nhược tri giá tiêu tức

Nếu biết tiêu tức nầy,

Hà sầu đạo bất liễu

 Buồn chi đạo lâu mau.

Nhơn nhược tâm bất nhược

 Người yếu, tâm không yếu,

Nhơn bần đạo bất bần

 Người nghèo, đạo chẳng nghèo,

Nhất tâm yếu tu hành

 Một lòng gắng tu hành,

Thường tại đạo trung biện

 Thường xử theo trung đạo,

Thế nhơn ái vinh hoa

 Người đời chuộng vinh hoa,

Ngã khước bất đãi kiến

 Ta bỏ, không chờ nó,

Danh lợi, tổng thị không

 Lợi danh đều là không.

Ngã tâm vô yểm túc

 Tâm ta không chán, thích

Đôi kim tích như sơn

 Vàng khối chất như núi,

Nan mãi vô thường hận

Chẳng đổi được vô-thường.

Tử-Cống, tha năng ngôn

 Tử-cống ông ấy nói,

Châu-Công hữu thần toán

 Châu-Công giỏi thần toán,

Khổng-Minh đại-trí mưu

 Khổng-Minh trí mưu lớn,

Phàn Khoái cứu chủ nan

Phàn-Khoái cứu chủ khó,

Hàn-Tín công lao đại

 Hàn-Tín công lao to,

Lâm tử chỉ nhút kiếm

 Chỉ một kiếm là chết,

Cổ kim đa thiểu nhơn

 Xưa nay bao nhiêu người,

Na cá hoạt kỷ thiên

 Mấy ai sống ngàn tuổi,

Giá cá trình anh hùng

 Ai đã làm anh hùng,

Giá cá tố hảo hớn

Ai đã làm hảo hớn,

Khán khán lưỡng tẫn bạch

Cứ xem tóc râu trắng,

Niên niên dung nhan biến

 Hằng năm dung mạo đổi,

Nhựt nguyệt xuyên thoan chức

 Ngày tháng đi như thoi,

Quan âm như tạ tiễn

Sáng tối dường tên bắn,

Bất cửu bịnh lai xăm

 Chốc chốc bịnh lại đến,

Đê đầu ám ta thán

Cúi đầu thầm than thở,

Tự tưởng niên thiếu thời

 Những tưởng trẻ trung hoài,

Bất bả tu hành biện

 Khi khỏe chẳng chịu tu,

Đắt bịnh tưởng hồi đầu

 Bịnh rồi quay lai tiếc,

Diêm vương vô chuyển hạn

 Diêm vương không đợi chờ,

Tam thốn khí đoạn liễu

 Thở ra, không trở lại, !

Nã chỉ na cá biện

 Đã cùng đường giải quyết.

Dã bất luận thị phi

Phải quấy cũng hết rồi,

Giả bất bả gia biện

Việc nhà đành buông trôi,

Giả bất tranh nhơn ngã

 Chẳng còn đua nhân ngã,

Giả bất tố hảo hớn

Chẳng thèm làm hảo hớn,

Mạ trước giả bất ngôn

 Bị mắng vẫn nín thinh,

Vấn trước như á hớn

 Ai hỏi, như câm điếc,

Đã trước giả bất lý

 Ai đánh cũng mặc kệ,

Suy trước hổn thân chuyển

 Thân về chốn minh mông,

Giả bất phạ nhơn tiếu

 Sợ chi ai đàm tiếu,

Giả bất tố kiểm diện

 Đâu còn cơn mặt đỏ,

Nhi nữ khốc đề đề

 Con cái khóc hu hu,

Tái giả bất đắt kiến

 Mắt đó, đâu nhìn thấy,

Hiếu cá tranh lợi danh

 Những lợi danh giành được,

Tu bả hoang dã bạn

 Là bạn với đồng hoang,

Ngã khán thế thượng nhơn

 Ta xem người nhân thế,

Đô thị tinh chỉ đạm

 Đều như giọt sương rơi,

Khuyến quân tức hồi đầu

Mong ai bừng tỉnh lại,

Đơn bả tu hành cáng

 Giử lấy đạo tu hành,

Tố cá đại trượng phu

 Xứng đáng bậc trượng phu,

Nhứt đao triệt lưỡng đoạn

 Đao tuệ chém lợi danh,

Khiêu xuất hồng hỏa khanh

 Vượt khỏi hầm lửa đỏ,

Tố cá thanh lương hớn

 Làm con người trong sạch,

Ngộ đắt trường sanh lý

Ngộ lý lẽ chơn thường,

Nhật nguyệt vi lân lữ

 Nhật nguyệt là bạn hữu.

 


Mùa Vu-Lan 2.544. Việt-Lịch 4.879 Canh-Thìn.

                                          

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/10/2010(Xem: 4622)
Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để, miệng nói: "Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!". Sư hỏi người đàn bà...
30/09/2010(Xem: 14500)
Chúng sanh bị đọa địa ngục, đó là chúng sanh tâm bị đọa lạc vào địa ngục tham, sân, si phiền não. Muốn giải phóng chúng sanh tâm, phải dùng tự tánh Địa Tạng của chính mình.
27/09/2010(Xem: 8926)
Đức Địa Tạng là một vị đã chứng bực Đẳng Giác trải đến vô lượng A Tăng Kỳ kiếp rồi. Ngài có lời đại nguyện rằng: Nếu Ngài chưa độ hết chúng sanh, thì Ngài không chứng quả Bồ Đề, và nếu sự thọ khổ trong địa ngục hãy còn, thì Ngài thề không chịu thành Phật. Do cái bổn nguyện ấy, nên Ngài phân thân nhiều phen, đặng độ thoát hằng hà sa số chúng sanh đương tội khổ, trải đã không biết bao nhiêu kiếp rồi, mà Ngài cũng còn làm một vị Bồ Tát như vậy. Còn như nói đến tiền thân của Ngài từ khi chưa chứng quả vị, có kiếp Ngài làm con gái, có kiếp thì Ngài làm con trai, và cũng có kiếp Ngài làm vua nữa.
25/09/2010(Xem: 14161)
Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh - Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót.
10/09/2010(Xem: 79220)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
02/09/2010(Xem: 10407)
Sơ lược về Thiền Sư Nguyễn Minh Không, Ông tên là Nguyễn Chí Thành sinh ngày 14/8 năm Bính Thìn (1076) tại Điềm Xá, Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Thiếu thời ngài chuyên làm nghề chài lưới của ông cha. Năm 29 tuổi ngài xuất gia đầu Phật. Ngài đã cùng Thiền sư Giác Hải và Thiền sư Từ Đạo Hạnh làm bạn thân sang Thiên Trúc học đạo với thầy Samôn được phép: Lục Trí Thần.
02/09/2010(Xem: 5758)
Tha phương sinh sống xứ người, tuy thâm tâm lúc nào cũng hướng về quê hương mến yêu, thế nhưng phải chờ đợi đến hơn hai mươi năm trời, sau bao ngày khắc khoải suy tư Thanh mới đột ngột quyết định về nước nghỉ hè hai tháng. Chàng về Saigon viếng thăm họ hàng vài ngày, rồi lang thang du ngoạn khắp các vùng biển từ Sầm Sơn đến Vũng Tàu, sau cùng quay lại Nha Trang, chiều chiều thơ thẩn đi dài dài trên bãi, mắt lơ láo nhìn biển khơi xa xăm với nỗi buồn vời vợi.
02/09/2010(Xem: 5575)
“Khác hơn thường lệ, đôi bạn thân Hiển và Phước, đối ẩm trong lặng lẽ, chẳng ai chịu mở lời. Hiển nâng chung trà hớp từng ngụm, rồi dường như đang bâng khuâng thả hồn theo những chiếc lá phong đỏ thẩm từng chiếc, từng chiếc rụt rè buông rời cành theo làn gió chiều mơn man. Còn Phước thì cầm chung trà, đi tới lui đăm chiêu suy nghĩ, mấy lần định lên tiếng mà cố đè nén chưa chịu hở môi.
02/09/2010(Xem: 5543)
Nghĩa háo hức theo mẹ về Việt Nam thăm viếng quê hương. Sau mấy ngày vui nhộn làm sống lại những kỹ niệm ấu thơ tại Thủ Đức với bà con họ nội xa gần, chàng theo mẹ về quê ngoại, tạm trú tại nhà cậu Út ở thành phố Phan Rang, Ninh Thuận. Vì thuở nhỏ chàng không có cơ hội liên lạc với họ ngoại, nên dù được cậu tiếp đón rình rang, nhưng chàng muốn thân thiết với hai đứa em cô cậu thật khó.