Đời tôi lên voi

14/01/201115:21(Xem: 4843)
Đời tôi lên voi

Hoa Cuc Chau Phi (14)
ĐỜI TÔI LÊN VOI


Nếu bảo tuổi trẻ là tuổi của rong chơi vui vẻ, của yêu đương mộng mơ, của lãng mạn...thì tôi không có được diễm phúc có tuổi trẻ. Chơi không dám chơi hết mình. Cười, không dám cười to. Nói năng e dè, đi đứng lủi thủi một mình, ít bạn bè thân...lúc nào cũng đầy mặc cảm nghèo khó, quê mùa. Đời tôi, do vậy, từ tốt nghiệp, ra đời, dù có nhiều lúc thăng trầm, nhưng hình như không có lúc nào cảm thấy...xuống chó cả, chỉ có lên voi thôi!

Nguyện vọng tha thiết của Ba Mẹ tôi và cũng là hoài bảo lớn nhất của tôi, trong thời gian học ở trường trung học tỉnh lẻ Gò Cong, chỉ là làm sao được thi đậu vào trường Sư phạm để ra trường về làng dạy học.

Không biết định mệnh đưa đẩy thế nào để tôi lại lọt vào trường Hành chánh, để phải đi từ ngỡ ngàng này đến ngỡ ngàng khác. Trường to quá, uy nghi quá! Bạn bè cao sang, xa lạ quá! Ngày dọn vào ký túc xá, lần đầu tiên được nằm trên nệm trắng mềm mại, tôi nhúng nhảy trên giường tràn ngập niềm vui. Tôi thật sự tận hưởng niềm hoan lạc của một thằng nhà quê, nghèo khó bất chợt được đãi ngộ quá nhiều tiện nghi ưu đải ngoài sức tưởng tượng!

Thời gian 4 năm ở Học viện Quốc Gia Hành Chánh, tôi học và sống như quan lớn! Ký túc xá thật hết sức tiện nghi, có phòng riêng, tắm rữa thoải mái, nước chỉ cần vặn nhẹ là tuôn ra ào ào... khỏi phải vất vả mang từ đìa và múc từng gáo, đèn học sáng trưng không leo lét như đèn dầu, không còn cảnh vừa học vừa đập muổi liền tay như ở quê. Học bổng nhiều quá, nhiều hơn cả lương anh Ngĩa quân uy quyền quê tôi. Ở ký túc xá miễn phí, ăn uống thoải mái, quần áo có ông tùy phái giặt ủi đưa đến tận nơi....tiền xài không sao hết được. Khi bước vào năm học thứ hai, tôi đã có đủ tiền mua chiếc xe Honda dame còn mới trong thùng, ung dung lái về Gò Cong dạo khắp xóm làng!

Ra trường, tôi mới làm quan thật sự. Bỏ qua những nhọc nhằn vì công việc, những dằn vặt vì lý tưởng, những nghịch cảnh phải đối phó....cuộc đời làm quan cũng lắm điều vui. Những vụng về ở những ngày đầu nhậm chức, điện thoại reo, chẳng biết nhắt lên nghe bên nào, nói bên nào, những  e dè với những thuộc cấp dày dạn kinh nghiệm, những rộn ràng với những nữ nhân viên trẻ đẹp...lẳng lơ, bây giờ nhớ lại, lòng vẫn thấy rộn rả niềm vui!

Rồi năm 1970, tôi xếp giấy bút, vào trường Sĩ quan Thủ Đức. Ở trường Thủ Đức, với một ít kiến thức và kinh nghiệm hành chánh, tôi được giữ chức thư ký Trung đội, và, do vậy, suốt 9 tháng quân trường, nhìn bạn đồng đội đổ mồ hôi tâp luyện gian khổ mà lòng vô cùng ái ngại... vì tối ngày tôi chỉ quanh quẩn ở văn phòng Đại đội. Mùi vị gian khổ của quân trường tôi chỉ thật sự nếm trải... ở 6 tuần huấn nhục, 1 tuần lễ hành quân giã trại... và ngày cuối cùng ở lễ đăng quan... " Quỳ gối xuống, Sinh viên Sĩ quan, đứng dậy, tân Chuẩn úy"!

Sau biến cố 1975, sau những năm dài học tập cãi tạo, những lần vượt biên gian truân, tôi đến được xứ Úc thần tiên! Và, cuộc đời tôi lại... tiếp tục lên voi! Công việc đầu tiên của tôi sau hơn 1 tháng ở Úc là bán vé xe bus. Mỗi ngày, tĩnh chề trong bộ đồ veston ủi thẳng, với cà vạt hẳn hoi, tôi sáng vác ô đi, chiều vác về. Hơn 1 năm sau, chán nghề lên xe xuống ngựa, tôi từ giả nghề bán vé xe bus và từ đó đến nay làm khá nhiều nghề, mà nghề nào, theo hoàn cảnh của tôi...đều lên voi hết.

Tôi bây giờ hưu trí, không làm gì cả, không có gì hết, không sở thích, không ước nguyện, không bằng cấp, danh vị, thành tích... nhưng tuyệt nhiên không có xuống chó... vì ở xứ Úc xa xôi, quê nùa này, tuổi già không cần làm gì cả, không phải lo gì hết... vẫn được sống thoải mái... như quan!

 

Võ Đại Sinh

 

 
Mời xem bài cùng 1 tác giả:

Võ Đại Sinh

 vo dai sinh

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30196)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25210)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9746)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6019)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4093)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4873)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4375)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4078)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15247)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5341)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.