Nói Với Ai Bây Giờ?

05/04/201303:23(Xem: 4310)
Nói Với Ai Bây Giờ?

Hoa Sen Trang

Nói Với Ai Bây Giờ?

Trần thị Nhật Hưng

Trước năm 1975, ba tôi là một thương gia giàu có. Sự giàu có không bắt nguồn ba là quan chức đầy thế lực hay thân cận chính quyền. Ba tôi chỉ là một người dân lương thiện thuần túy.

Ngày ba mẹ dắt đứa con trai nhỏ từ Bắc vào Nam, ba mẹ tá túc tại nhà người chú họ bên mẹ. Người chú có một xưỡng sản xuất bánh kẹo, thế là ba mẹ tôi vừa được xem là “con cháu trong nhà” vừa làm việc đắc lực cho chú. Đương nhiên thôi, chân ướt chân ráo vào Nam với hai bàn tay trắng, có nơi ăn chốn ở tạm gọi là an thân còn mong gì hơn. Thế nhưng, cuộc đời không đơn giản như thế. Ba mẹ tôi chỉ được nuôi ăn nhưng không nhận được đồng lương nào, dù chỉ vài đồng tiêu vặt.Tiền với ba tôi không phải là cứu cánh, nhưng nó là phương tiện để giải quyết nhu cầu cần thiết, cơ bản của con người.

Ngày mẹ mang thai sinh người con thứ hai, vì không có tiền, ba tôi phải đưa mẹ vào sinh nhà thương thí. Việc ăn uống và sữa cho em bé phải tự lo. Đứa bé sinh ra èo uột vì cả mẹ lẫn con vốn thiếu dinh dưỡng. Mẹ tôi không đủ sữa cho con bú. Sữa bên ngoài thì không có tiền mua, nên chỉ được vài hôm, đứa bé vừa yếu vừa đói chết tức tưởi trong lòng mẹ.Với nỗi đau xé ruột xé gan, ba mẹ tôi ôm con vào lòng, buồn tủi khóc vì sự bất lực của chính mình. Cứ thế, một đứa, rồi đến đứa thứ hai vẫn cùng chung số phận, ba tôi nhìn ra tương lai mờ mịt nơi nhà người chú, ba quyết định ra đi tìm con đường sống, sau khi gởi vợ con sang nhà người dì, em họ mẹ.

Ngậm ngùi chia tay vợ con, tạm để mẹ và anh tôi ở lại, ba lặng lẽ một mình rời nhà, bắt đầu bước vào con đường vô định. Ba đi mãi không định hướng. Con đường trước mặt không vẽ ra những tia hy vọng, nhưng ba tôi vẫn hy vọng, vì hy vọng là sức sống của con người, là động lực sức đẩy cho ba tiến tới. Ba lặn lội hết tỉnh này thành phố kia, dường như đất miền Nam, hầu như nơi nào cũng có dấu chân ba đặt tới. Tha phương cầu thực, bữa đói bữa no, nhưng với ý chí mãnh liệt, cùng sự chịu đựng cùng cực, ba không nệ hà bất cứ công việc nào khả dĩ nuôi được thân và có vài đồng gởi về cho mẹ. Cần cù, siêng năng, chịu khó…luôn là tiêu đề của ba tôi, “đại phú do thiên, tiểu phú do cần”, sự biếng nhác không thể dung chứa tồn tại trên thế gian này. Ba tôi luôn nghĩ thế. Rồi với thời gian, men mãi trong đường hầm tối tăm, cuối cùng ba cũng tìm ra ánh sáng. Bao năm vất vả làm việc, ba tôi dành dụm tạo được một số vốn nho nhỏ, trở về miền Trung, nơi có mẹ và anh tôi đang trông đợi, ba thuê nhà rồi tự thân dựng bảng hiệu. Cửa tiệm mang tên “Chí Thành” hàm ý nghĩa: có chí sẽ thành công. Ba mở tiệm sản xuất bánh mì và tất cả các loại kẹo bánh, kể cả những sản phẩm như lồng đèn, bánh dẻo, bánh nướng cho mùa Trung Thu do chính ba chủ đạo.

Đất lành chim đậu. Cùng lúc với thành phố vươn mình, cửa tiệm của ba tôi cũng dần dần phát triển. Rồi năm chị em gái chúng tôi cũng lần lượt ra đời. Chúng tôi được đời ban tặng mỹ danh: “Ngũ long công chúa”. Thiên hạ vẫn bảo: “Tam nam bất phú, ngũ nữ bất bần”. Không rõ có phải vì vậy hay nhờ Trời Phật thương hay do tam cần: cần cù, chuyên cần, cần kiệm mà càng lúc sự may mắn luôn mỉm cười với ba mẹ tôi. Cửa tiệm từ bán lẻ sang bán sỉ cung cấp cho cả tỉnh và các quận lỵ. Ba tôi phải thuê thêm nhân công để phụ giúp công việc. Chẳng bao lâu từ nhà thuê, ba mua nhà rồi xây lầu, rồi từ từ tiến dần tậu thêm một miếng đất rộng ngay trung tâm, cách căn nhà đang ở 15 phút đi bộ để xây sẵn 6 căn nhà cho 6 người con.

Những kinh nghiệm gian khổ, thiếu thốn, vất vả trong sinh kế, nhất là từng chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu 1945, ba mẹ không muốn đám con mình vướng phải. Với cái nhìn thực tế, khu đất phía sau 6 căn nhà, ba tôi biến nó thành nông trại. Ba đào hai ao thả cá, sắm một chiếc thuyền nan (chính chiếc thuyền này đã làm mất mạng hai đứa trẻ hàng xóm trèo rào qua nghịch thuyền bị lật úp, sau này ba tôi phải lấp hai ao lại). Xung quanh ao, rải rác ba trồng chuối, dừa, cây ăn trái. Trong vườn, từng luống bắp, hành củ thẳng tắp dọc lối đi cùng nhiều loại rau thực dụng. Trên sân thượng của 6 căn nhà, ba xây tổ nuôi chim câu. Đất lành chim lại đậu. Với sự chăm sóc cẩn thận của ba tôi, dần dần chim câu lũ lượt kéo về sinh sôi nảy nở, ba tôi lại phải tăng cường nhiều “tổ ấm” cho từng cặp chim câu. Dưới vườn, gà vịt chạy rong đếm không hết. Nông trại bỗng sinh động bởi nhiều âm thanh hỗn hợp của gà, vịt, chim, với tiếng vẫy đuôi bì bõm của cá ở dưới ao lẫn với tiếng gió rì rào len qua hàng dừa, chuối. Cảnh sắc thiên nhiên sống động của một thế giới nhỏ thật êm ả, thanh bình.

Hằng ngày, cứ mỗi buổi chiều sau công việc của tiệm, ba tôi thường ra vườn vui thú điền viên. Còn các chị em tôi, chúng tôi ra tưới cây nhặt cỏ sau buổi tan trường mặc dù đã có một chị quản gia. Thu hoạch của nông trại mang lại cho gia đình tôi thêm nhiều lợi tức. Nhưng vốn hào sãng, bình dị, thân thiện, có người hỏi mua nhưng ba không bán, ba cứ túm từng gói bắp, hành, rau rồi sai chị em tôi đem biếu bà con từ đầu trên tới xóm dưới.

Cuộc đời vốn vô thường. Niềm mong mỏi của ba mẹ, đám con của ông bà sau này quây quần bên nhau, nếu có thế nào, đùm bọc nhau bám lấy đất mà sống. Đất đai là nguồn sống vô tận cho con người. Đất sẽ không phụ lòng với những ai yêu nó, hết lòng tận tụy cùng nó.Tiếc là, không phải điều gì muốn cũng được, mơ sẽ thành, nên ba trong năm chị em gái của tôi, phần vì việc học, phần lập gia đình theo chồng đổi vô Sài Gòn rồi sau đó định cư ở nước ngoài sau biến động 1975 khi chưa một lần vào sống một trong sáu căn nhà đó.

Sáu căn nhà để không. Thay vì cho thuê, ba mẹ tôi sử dụng trong công tác từ thiện mà ba tôi là thủ quĩ và bố chồng tôi là hội trưởng của hội “Hiếu Hữu Hội Những Người Bắc Tha Hương” mục đích tương thân tương ái hỗ trợ giúp nhau khi xa quê, không chỉ người trong hội mà cả những người ngoài hội. Thỉnh thoảng hội mời bác sĩ đến chữa bịnh miễn phí cho đồng bào nghèo. Hội có xe táng và cả nghĩa địa để lo chôn cất những người thân quen….

Biến động 1975 làm đảo lộn cuộc sống của người dân miền Nam. Nhiều gia đình tan tác. Nhà ba mẹ tôi không ngoại lệ. Ý thức được “tội” giàu, nhiều tài sản khi chính sách nhà nước chủ trương đấu tranh giai cấp, san bằng xã hội, ba tôi vội vàng không đợi nhà nước “hỏi thăm” đã “tình nguyện” dâng tặng một căn nhà trong sáu căn nhà đó. Căn nhà “tặng” sau này nhà nước “bán” cho một trung tá công an. Một căn khác có anh bộ đội hỏi “mượn”. Bốn căn còn lại nhà nước “mượn” nốt để mở “tổ hợp kẹo bánh” cho nhân viên “cửa hàng ăn uống”. Ba tôi không có quyền hạn gì trong tài sản của ông nữa.

Cái kiểu “làm chủ tập thể”, cha chung không ai khóc, cho nên chả bao lâu, không chỉ nông trại sơ xác tiêu điều: gà, vịt biến mất, chim vỗ cánh bay, rau cỏ cũng không…ngóc đầu lên nổi. Đất không phụ người chỉ có người phụ đất. Kẻ hái thì nhiều, người trồng thì không, mà ngay cái tổ hợp bánh kẹo cũng te tua vì cả nước đang lâm cảnh đói nghèo, thiên hạ cần thóc gạo hơn là những hàng ăn uống xa sỉ. Cuối cùng đất hết lành, chim hết đậu, nhân viên bánh kẹo lần lượt rời...“tổ”( tổ hợp) bay tìm con đường mới để lại cảnh tan hoang như một đám cháy bởi khói ám của củi than nấu kẹo. Có “chim” trước khi bay, còn âm thầm bán sang tay một căn nhà với giá rất hời!

Biết nói sao bây giờ và…NÓI VỚI AI BÂY GIỜ ( ?!) trước những sự kiện trái tai gai mắt, ba mẹ tôi đành yên lặng sống trong cảnh “có tai như điếc, có mắt như mù, có miệng như câm” để cầu hai chữ bình an!

Thế rồi, ba căn nhà còn lại, chính quyền tạm khóa cửa, để đó.

Thời gian lặng lẽ trôi, như thờ ơ, như vô tình với mọi biến động xung quanh. Mọi người vẫn sống, vẫn giương to hai mắt nhìn thời thế đổi thay, để chứng kiến, làm chứng nhân cho một thời đại.

Gia đình tôi cũng vẫn sống, lặng lẽ như bao người khác. Khi chị kế và em gái út của tôi, cùng cậu cháu nội của ba mẹ tôi lập gia đình, mẹ tôi ra thưa chính quyền xin lại ba căn nhà trống để ở. Thời đó, dường như đương đầu với cuộc sống, với chính quyền chỉ có đàn bà. Đàn ông tránh để khỏi bị đi cải tạo. Cái lối làm việc đẩy trách nhiệm cho chỗ này người kia không muốn giải quyết những điều có lợi cho dân vẫn là thói quen thông thường của nhân viên nhà nước. Mẹ tôi không chờ đợi, mẹ “vùng dậy” như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Mẹ thực thi quyền làm chủ, điều mà nhà nước luôn ra rả tuyên bố: “Chính quyền là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân làm chủ”. Có sự cho phép của…đầy tớ để được…làm chủ, mẹ tôi không ngần ngại nữa, nắm bắt lấy nó để thực hiện cái quyền linh thiêng đó! Mẹ và đám con cháu bẻ khóa dọn vào ở! Mẹ cả gan đương đầu với chính quyền. Một cuộc xung đột giữa nhà nước với một bà già! Cuối cùng, cái gì của Ceasar phải trả lại cho Ceasar, dù chỉ còn một nửa. Có vẫn hơn không!

Thế rồi, sau khi tu bổ sửa sang lại ba căn nhà với bao công sức, ba mẹ tôi dọn ra ở chung với vợ chồng người cháu nội, sát cạnh với gia đình hai cô con gái, làm “hàng xóm” cận kề sát vách với những nhân vật hàng xóm đặc biệt!

Không hẳn vì tục ngữ dạy: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” để tối lửa tắt đèn có nhau, mà vốn bản chất hiền hòa, gần gũi, thân thiện, ba mẹ tôi không cần “mua” vẫn vui vẻ thân thiện với láng giềng, sống hài hòa với lối xóm như không có vấn đề gì xảy ra. Những chuyện bất bình, chướng tai gai mắt coi như cổ tích chả bao giờ nhắc đến. Có lần khi được biết, nhà nước “hứa” sẽ trả lại nhà cửa đất đai cho những “núm ruột ngàn dặm” nếu trở về, nhà cửa còn giấy tờ, tôi đặt vấn đề với ba, đòi những căn nhà đã mất. Ba tôi nói: “Thôi, con ạ. Họ đang an ổn sống nơi nhà của mình, đuổi họ ra con cháu họ vất vưỡng cầu bơ cầu bất, mình có vui không. Hơn nữa, chúng con ba đứa ở hải ngoại, mất ba căn nhà, Trời Phật đã cho ba căn nhà khác đẹp hơn, tốt hơn, mình còn đòi hỏi gì nữa. Có phúc có phần. Mình sống được hãy cho người khác sống với”.

Tôi nghe thật xuôi tai, thật chí lý và cảm phục lòng nhân hậu cùng ý tưởng của ba tôi. Và tôi cũng rất mừng khi thấy ba mẹ an nhiên tự tại, không buồn phiền, không động tâm trước những điều đúng ra “trông thấy mà đau đớn lòng!”.

Thậm chí ông hàng xóm bộ đội cần tí đất phía sau xây thêm phòng cho con cháu; với lòng nhân hậu, ba tôi vui vẻ gật đầu.Thế nhưng, câu chuyện đã không dừng ở đó. Miếng đất mầu mỡ phía sau nhà cùng con hẻm rộng 2 mét từ đường chính dẫn ra phía sau nông trại vẫn hấp dẫn lôi cuốn bao con mắt thèm thuồng. Rồi bỗng một ngày đẹp trời, nhà ông công an nhờ may mắn kề sát con hẻm, qua ngỏ ý mua tí đất đó, nhưng ba tôi chủ trương nếu có cơ hội chỉ tậu thêm chứ không bao giờ bán đất, thế mà, bằng cách nào không ai biết, mà có biết thì cũng giả mù, giả điếc, giả câm để nhìn ông “hóa phép” nới rộng nhà ông với 2 mét đất đó. Con hẻm bị bít lại, mất lối đi, như bít tương lai của bao người dân lương thiện. Rồi cùng với chính sách tiến nhanh tiến mạnh tiến thật vững chắc, họ lần lượt tiến sâu đất phía sau nhà, xây nhà rộng và dài hơn, hợp thức hoá bằng mấy cái sổ đỏ xác nhận hợp lệ tài sản của họ. Ôi, biết nói sao bây giờ và NÓI VỚI AI BÂY GIỜ trước những sự kiện như vậy?!

Thôi thì, thời thế thế, thế thời ta phải thế. Chấp nhận để mong hai chữ “bình an!”.

Thế nhưng, “cây muốn lặng, gió chẳng chịu ngừng”, để bảo vệ khỏang đất sau vườn, gia đình tôi rào lại để minh định đất đai của mình, không để hàng xóm lấn chiếm nữa, thì bao công an, một cách nhạy bén, đến làm khó dễ, đó là lần đầu tiên, ba giận run lên, thở dốc.

Với chính sách sổ đỏ, chỉ làm khổ những người dân đen. Hãy nghe vị công an “hàng xóm” nói với tôi:

- Ông bà cụ bên nhà ( tức bố mẹ tôi) muốn có sổ đỏ, chỉ “chạy” mười triệu ( 500 US) là xong ngay.

(Hiện nay giá “mua” sổ đỏ tăng lên một trăm triệu)

À, thì ra là thế. Muốn được việc phải giải quyết bằng tiền! Để nói về xã hội đương thời, ca dao đã cất tiếng hát:

Tiền là tiên là Phật.

Là sức bật của lò xo.

Là thước đo lòng người.

Là tiếng cười của trẻ.

Là sức khỏe người già.

Là cái đà tiến thân.

Là cán cân công lý.

Là hết ý cuộc đời!

Vốn không quen hối lộ, chạy chọt, và tại sao phải hối lộ khi hợp thức hóa một cách hợp pháp tài sản mồ hôi nước mắt của mình, gia đình ba mẹ tôi lập đơn công khai xin sổ đỏ. Đơn lập từ tết...Congo mà cho đến bây giờ, năm 2013, xách đơn khiếu kiện từ địa phương chạy tít ra mãi trung ương Hà Nội, đơn đi “du lịch” ngày này qua tháng khác, năm này sang năm kia, đẩy tới đẩy lui, ngâm dấm ngâm tôm, không ai cứu xét, cuối cùng lại về nằm trong tủ, về địa phương với lý do giấy tờ không hợp lệ. Vậy câu hỏi đặt ra, ba nhà hàng xóm kia, từ giấy tờ nào để có ba sổ đỏ ?!

Ôi, sổ đỏ, sổ đỏ. Thì ra chính sách sổ đỏ chỉ tô đen lên cuộc sống của dân đen, làm mờ lối đi cho người dân tiến tới, chỉ vô tình tiếp tay để hợp thức hoá những tài sản bất hợp lệ không do mình tạo ra mới vội vàng bằng cách này hay cách khác hợp thức làm của riêng. Người dân chân chính, lương thiện không dễ dàng có được để có thể sử dụng làm ăn, nếu không chịu bỏ tiền ra “mua” sổ đỏ!

Thưa các bạn, tôi xin chấm dứt câu chuyện tại đây, những sự kiện tôi vừa nêu trên, tự mỗi người có thể đánh giá về luật pháp, cuộc sống của người dân thấp cổ bé miệng đang sinh sống tại Việt Nam.

Riêng tôi, nếu cho rằng, tổ quốc luôn tri ân những chàng trai “yêu nước” sẵn sàng hy sinh tính mạng, dũng cảm xông pha trận địa để bảo toàn lãnh thổ của tiền nhân khi có ngoại xâm, thì sẽ cảm thông một phụ nữ như tôi, chỉ biết “thương nhà”, thương cho mồ hôi nước mắt của cha mẹ bị xâm phạm, bị đè đầu. Tôi thay cha, một người cha hiền lành, nhân hậu; bản chất nhân ái hiếu hòa, luôn đứng trên mọi khôn, dại toan tính của đời thường; suốt đời tận tụy lo cho vợ con, không tranh chấp tranh dành, chỉ luôn lấy phúc phần làm căn bản. Tôi thay cha để cất tiếng nói xuất phát tận đáy lòng, lương tâm tôi.Tôi chỉ muốn nói lên những bất công trong xã hội, hoặc tiếng nói của những người dân bị áp bức chất chứa lâu ngày mà từ lâu, đã nhiều lần tôi muốn nói, nhưng chẳng biết phải…

NÓI VỚI AI BÂY GIỜ ???!!!

Trần thị Nhật Hưng.

2013

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/01/2018(Xem: 6460)
40 Năm Ở Mỹ, sách của TT Thích Từ Lực
11/01/2018(Xem: 7487)
Vào những năm đầu của thập niên 2000, khi cây bút đang còn sung sức, tôi viết rất nhiều bài về danh lam thắng cảnh trên quê hương Nha Trang của mình để giới thiệu trên các báo và tạp chí khắp đất nước. Trong số đó, hiển nhiên là có bài viết về ngôi chùa đã lưu nhiều hình ảnh, dấu ấn kỷ niệm vào ký ức tuổi thơ của tôi với tên gọi thân quen mộc mạc: “Chùa Núi Sinh Trung”.
08/01/2018(Xem: 18306)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 18932)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 10061)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 6515)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 13139)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 139033)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 10331)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7648)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.