Thiền Môn Thư Giản

21/06/201314:19(Xem: 11220)
Thiền Môn Thư Giản

Góp nhặt lá Bồ Đề.

Thiền Môn Thư Giản

Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm

Nguồn: Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm

Ai Tra Cái Cán Vào

Xưa, có hai thầy trò. Một hôm thầy tỳ kheo đi cúng. Thầy viết sớ tên thí chủ tên Tròn. Chữ Hán không có chữ tròn nên thầy mới vẽ một vòng tròn.
Chú đệ tử coi sớ lại thấy vòng tròn tưởng thầy viết chữ chữ trung thiếu sổ giữa, chú liền viết thêm sổ giữa.
Đến lúc khai kinh đọc sớ, thầy đọc tên trai chủ Nguyễn Thị Gáo. Cô trai chủ nói, "Tên con là Tròn chứ không phải Gáo."
Thầy nói, "Mới đây mà ai tra cái cán gáo vào?"
Chú đệ tử ngồi sau bụm miệng mà cười.

Lộn Sớ

Thầy trụ trì cùng các Phật tử đi cúng thất cầu siêu. Tụng chú Đại Bi xong thầy xướng sớ.
Phật tử nam quỳ xuống đọc hai câu rồi ngừng, mồ hôi ra nhuễ nhoại. Thầy trụ trì mới biết chuyện xướng rằng, "Lộn sớ … Đợi một chú …"
Quý Phật tử hộ niệm quỳ ở sau tức cười quá chịu không được đành lạy xuống úp mặt cười rung cả vai.
Do Thầy trụ trì xướng lộn sớ nên ai cũng cười.

Quên Tán

Tới ngày cúng thất thứ 49 của ông thầy cúng, quý thầy quen thân đến cúng dùm.
Đến khi làm lễ khai kinh, chuông mõ, nhịp tán đã đánh lên nhưng thầy chủ sám lại quên không biết bắt bài gì.
Cô tín chủ thấy lâu quá bèn khóc lóc và kể rằng, "Thầy tôi khi còn sống, mỗi khi làm lễ thì mặc áo, đắp y, đội mũ và tán bài Dương Chi …" Quý thầy ấy liền bắt ấn tịnh thủy rồi "ý a ý a" tán theo.
Cô tín chủ lanh trí đã gỡ dùm cho thầy chủ sám.

Chứng Minh Cho Chồng Chị

Một cô thí chủ có chồng đã chết. Đến tuần thất thứ 49 ngày, cô rước thầy về cúng cầu siêu cho chồng.
Đến khi làm lễ khai kinh, quý thầy tán, "Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát."
Cô thí chủ quỳ ở sau khóc kể, "Chồng con chết, con sắm sửa lễ vật hoa quả để Phật chứng minh tiếp độ cho linh hồn chồng con, sao quý thầy cầu Phật chứng minh cho quý thầy? Chồng con làm sao siêu độ. Hu hu hu …"
Quý thầy lanh trí liền tán, "Nam Mô chứng minh cho chồng chị …"
Cúng xong quý thầy về chùa thuật lại cho quý thầy khác nghe, ai cũng cười.

Tây An Tiếp Độ Vong Hồn

Ngày xưa, ở miền Nam có một gia đình hai chị em. Bà mẹ mới qua đời nên hai cô rước thầy và mỗi tuần đều rước thầy về cúng như vậy. Bà chị biết lễ nghĩa nên mỗi lần thỉnh thầy làm lễ khai kinh, bà đều có làm khay lễ để một lư trầm và 50 đồng tiền lễ.
Hôm cúng thất thứ ba, bà chị bận công việc đi khỏi không có ở nhà. Bà dặn người em ở nhà thỉnh thầy cúng thất. Bà em không biết nghi lễ nên không có làm khay lễ.
Tới chừng thầy làm lễ cúng, thầy đọc, "Nam mô Tay An tiếp độ vong hồn."
Bà em nói, "Thưa thầy, Tây Phương tiếp độ vong hồn chớ sao lại Tây An tiếp độ vong hồn hở thầy?"
Thầy cúng nói, "Đi Tây An còn có tiền mới đi được, huống chi là Tây Phương."
Bà em hiểu ra xin sám hối. Thầy mới đọc lại, "Nam Mô Tây Phương tiếp độ vong hồn."

Thầy Để Con Ở, Thầy Trở Con Đi

Xưa kia có một vị thầy thường ăn mặn. Mỗi khi thầy ăn thì có chú thị giả đứng sau quạt hầu thầy. Chú thị giả ăn cái mâm thầy ăn còn lại.
Hôm ấy, bà cô ở chùa dọn lên chỉ có một con cá vừa vừa. Thầy ăn hết một phía rồi muốn trở phía kia. Chú thị giả đứng sau nói, "Thầy để con ở, thầy trở con đi."
Ngày xưa, phàm làm thầy thì không ăn hết mà phải để lại cho thị giả.

Hai Cái Bánh Ít

Có một ông thầy đi cúng đám cho thí chủ, dắt ông điệu đi theo.
Bà thí chủ thấy chú thị giả dễ thương, lúc cúng xong cho chú hai cái bánh ít, bỏ vào túi áo.
Ông thầy muốn lấy hai cái bánh ít này nên khi đi về trên đường ông kiếm chuyện kiếm chuyện bắt lỗi. Ông nói với ông điệu, "Tao là tù phạm hay sao mà mầy đi sau mầy giữ?" Ông điệu liền đi trước.
Ông thầy lại nói, "Mầy là thầy tao hay sao mà mầy đi trước?" Ông điệu lại đi ngang thầy.
Ông thầy lại bảo, "Mầy là bạn tao hay sao mà đi ngang tao?" Ông điệu không biết làm sao bèn đứng khóc.
Ông thầy nói, "Không khóc gì hết, đưa hai cái bánh ít đây rồi đi cách nào cũng được."
Không lẽ ông thầy mà còn láu ăn với đệ tử vậy sao?

Ông Phật Có Râu

Ngày xưa thí chủ thỉnh thầy cúng cũng có tụng Kinh Quan Thánh và Kinh Ông Táo nên có tượng Quan Thánh và tượng ông Táo.
Hôm ấy ông thầy sai chú điệu lấy chuông, mõ, kinh, tượng để đi cúng đám cho thí chủ. Ông điệu liền lấy kinh, tượng, chuông, mõ bỏ vào trong một cái xách. Hai thầy trò lên đường.
Khi đến nhà thí chủ soạn ra, mới biết chú điệu đem lộn tượng ông Táo mặt đen và có râu dài. Ông thầy biết lỡ rồi nên ông đành phải dùng tượng ông Táo. Khi thầy lấy tượng ông Táo bỏ lên bàn cúng, bà thí chủ thấy vậy hỏi, "Thưa thầy, kỳ trước ông Phật đẹp, sao kỳ này ông Phật mặt đen hở thầy?"
Ông thầy trả lời, "Kỳ trước ông Phật còn trẻ nên đẹp. Kỳ này ông Phật già đi nắng nên đen, và già thì phải có râu."
Khi khai kinh xong, ông thầy lấy kinh ra xướng lễ để lạy Phật sám hối. Nhưng chú điệu đem lộn cuốn kinh lịch đại chữ Hán. Ông thầy cũng vẫn xướng lễ, sám hối. Thầy lạy, "Nam mô tháng Giêng Phật, Nam Mô tháng Hai Phật. Nam mô tháng Ba Phật, Nam mô tháng Tư Phật …" Ông điệu nghe tức cười quá liền bỏ ra ngoài cười.
Ông thầy lạy một hồi nóng nực, xoay lại bảo "Ông điệu đâu, sao không quạt, nóng quá!"
Bà thí chủ lạy ở sau nói "Ông điệu đi ra hồi tháng Tư, bây giờ đến tháng Tám thầy mới hỏi."

Con Mèo Niệm Phật

Ngày xưa, có một ông thầy nuôi hai cô đệ tử. Một hôm thầy phải đi xa nhập hạ ba tháng.
Trước khi đi, thầy dặn hai cô đệ tử, "Ở nhà lo công việc chùa, hai thời công phu bái sám. Đừng ngủ, bỏ tụng kinh mà có tội."
Thầy lại đưa cho mỗi cô một xâu chuỗi trường và dạy rằng, "Các con ở nhà siêng niệm Phật, khi thầy về chuỗi đứa nào bóng láng sẽ được thưởng, chuỗi đứa nào không bóng sẽ bị quở phạt."
Một cô vâng lời thầy, siêng năng niệm Phật nên chuỗi láng. Còn một cô ăn rồi đi chơi nhưng sợ chuỗi không láng khi thầy về la rầy nên cô thường lấy dầu bôi vào chuỗi, vuốt chuỗi cho láng.
Con mèo đánh hơi thấy dầu liền tha vào xó liếm. Mấy con chuột thấy vậy nói với nhau rằng: "Chị mèo kỳ này tu rồi, chị niệm Phật coi dễ thương lắm, chúng ta lại gần chơi với chị.
Khi các con chuột đến gần, con mèo bỏ chuỗi chụp chuột. Chuột vừa chạy vừa la, "Chị mèo tu giả! Chị mèo tu giả!"

Niệm Phật Bị Đánh

Có một cô tín nữ tin Phật nên thường tụng kinh niệm Phật. Cô có đứa bé gái độ mười tuổi, thường theo cô vui chơi. Khi cô tụng kinh niệm Phật, nó không biết chơi với ai, thường đứng bên ngoài nhìn vô. Khi cô tụng kinh xong rồi niệm Phật. "Nam Mô A Di Đà Phật." Nó đứng ngoài nó kêu, "Má!" Cô xoay lại nguýt nó.
Rồi cô trở vô tiếp tục niệm Phật. Nó lại kêu "Má!" một tiếng nữa. Cô xoay lại lườm nó!
Một lát nó lại kêu, "Má!" lần nữa. Cô đứng dậy tát nó một tát. Nó ra ngoài vừa khóc vừa nói, "Má kêu Phật không biết bao nhiêu tiếng nhưng không sao. Còn con kêu má có ba tiếng, má lại đánh con!"
Vì thế có người nói, "Niệm Phật nhiều Phật sẽ giận. Như mình kêu tên ai, kêu hoài họ sẽ giận.
Xin thưa, Phật đã chứng Phật quả nên không còn phiền não, không còn giận. Niệm Phật càng nhiều càng tốt. Hơn nữa, chữ "Nam Mô" là cung kính đảnh lễ, và chữ "A Di Đà" là tên của Phật A Di Đà. Niệm danh hiệu Phật với tâm thành, cung kính đảnh lễ thì được phước vô lượng.

Nam Mô Xa Cạ Phật

Một bà già đến chùa lễ Phật. Khi bà đứng trước bàn Phật, bà thấy Phật nhiều quá, làm sao vái lạy cho hết đây?
Bà mới chắp tay và vái, "Nam mô Phật đồng, Phật gỗ, Phật thổ, Phật xi măng, và Nam mô xa cạ Phật." (Xa cạ nghĩa là tất cả) Chú điệu đứng đánh chuông liền bụm miệng mà cười.
Một lần khác, bà già đến chùa mang theo một nải chuối chín. Bà thấy nhiều Phật quá. Nếu để một chỗ thì các Phật khác ở xa không có nên bà đến trước mỗi đức Phật, bà xá một cái và để một trái chuối.
Bà để chuối hết các đức Phật nhưng khi đến bàn Phật sơ sanh thì hết chuối. Bà nói, "Ba thiếu phần của cháu rồi! Hẹn kỳ sau nhé."
Chú điệu nói, "Đó là Phật sơ sanh."
Bà nói, "Vậy hả, tôi đâu có biết."

Anh Ba Tàu Hủ

Có một ngôi chùa ở đầu làng. Trụ trì ngôi chùa này là một vị đại đức trung niên xuất gia.
Thầy xuất gia với lòng tính kính Tam Bảo. Vì đi tu lớn tuổi nên không được học trường lớp Phật pháp, sự hiểu biết của thầy có giới hạn.
Gần chùa có ông cư sĩ học Phật thường tới chùa gạn hỏi Phật pháp. Thầy không trả lời thì không được, nhưng trả lời thì không vừa ý ông ta. Vì vậy mỗi khi thấy ông cư sĩ đến thì thầy lánh mặt.
Trước chùa có anh Ba bán tàu hủ. Một hôm thầy đến nói chuyện cho anh Ba tàu hủ nghe về vấn đề ông cư sĩ cứ đến nạn vấn làm thầy phiền phức. Anh Ba tàu hủ nói, "Thầy để cho con. Bữa nay ông cư sĩ có đến không?" Vừa nói xong, xa xa thấy ông cư sĩ đến.
Anh Ba tàu hủ liền mượn áo, y, mũ của thầy khoác vào, lên chánh điện ngồi thiền, xoay mặt qua một bên. Ông cư sĩ đến, liền lên chánh điện lạy Phật. Thấy có vị tăng đang ngồi thiền, tướng mạo trang nghiêm, ông liền đảnh lễ hỏi đạo.
Ông cư sĩ đưa một ngón tay. Vị thiền sư đưa ra ba ngón tay. Ông cư sĩ đưa ba ngón tay. Vị thiền sư liền đưa năm ngón tay. Ông cư sĩ cúi đầu bái phục ra về. Gặp thầy trụ trì, ông nói, "Hôm nay chùa mình có cao tăng. Con hỏi đạo, ngài trả lời thật xác thực.
Thầy trụ trì hỏi, "Thiền sư trả lời thế nào?"
Ông cư sĩ nói, "Con hỏi phải làm sao được nhất tâm, Thiền sư trả lời phải quy y Tam Bảo."
Con hỏi, "Làm sao phát huy ngôi Tam Bảo? Thiền sư dạy phải giữ ngũ giới. Như thế ngài trả lời xác thật quá. Chùa mình từ nay có cao tăng, con không dám quấy rầy thầy nữa." Nói xong, ông chào thầy ra về.
Anh Ba tàu hủ cởi y, hậu, mũ trả cho thầy trụ trì và nói, "Ông cư sĩ thua con rồi, từ nay ông không đến quấy rầy thầy nữa."
Thầy trụ trì hỏi, "Anh Ba tàu hủ trả lời sao mà ông cư sĩ phục anh vậy?"
Anh Ba tàu hủ nói, "Có gì đâu. Ông cư sĩ hỏi mua một miếng tàu hủ là bao nhiêu? Con trả lời giá ba đồng.
Ông hỏi nếu mua ba miếng thì bao nhiêu? Con nói, nếu là Phật tử con bán rẻ năm đồng. Thế nên ông bằng lòng ra về, bữa sau sẽ mua."
Thầy trụ trì ngạc nhiên nghe anh Ba tàu hủ nói vậy, ôm bụng mà cười.
~ HẾT ~



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/01/2018(Xem: 16958)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 15016)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9784)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 5943)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12586)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 131334)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 8964)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7319)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6775)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.
19/10/2017(Xem: 22425)
Truyện thơ: Hoàng Tử Khéo Nói và Con Thủy Quái, (thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi PRINCE GOODSPEAKER AND THE WATER DEMON của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson) , Ngày xưa có một ông vua Trị vì đất nước rất ư công bằng Cạnh bên hoàng hậu đoan trang Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình. Thế rồi hoàng hậu hạ sinh Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng Nhà vua sung sướng vui mừng Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên Mong cho con lúc lớn lên Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai Vua bèn đặt tên con trai Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.