12. Vị Sư hạnh đầu đà

03/05/201311:27(Xem: 13080)
12. Vị Sư hạnh đầu đà
Bằng Tất Cả Tấm Lòng


12. Vị Sư Hạnh Đầu Đà

Thích Chân Tính
Nguồn: Thích Chân Tính

Bước lên gần chiếc cầu thang gỗ của phòng thầy Giác Liêm ở, tôi chợt thấy một vị sư khoác mảnh y vàng, dáng người to béo nằm trên chiếc võng dù. Nghe tiếng chân người, vị sư quay về phía cầu thang. Thấy vậy tôi vội chắp tay xá chào:

- A Di Đà Phật! Bạch sư có thầy Liêm ở đây không ạ?

Sư nhỏm người ngồi dậy. Với gương mặt đầy đặn, nước da ngăm đen hơi vàng, trạc tuổi 50, sư tươi cười đáp:

- Mô Phật có, thầy ấy ở trên chính điện, mời thầy vào phòng ngồi chơi!

Tôi đã quen biết thầy Giác Liêm khi còn theo học tại Phật học viện Thiện Hòa chùa Giác Ngộ. Và cũng từ đấy tôi được biết chùa Phật Bửu. Những lần qua lại trao đổi về việc học với thầy Liêm, tôi được Thượng tọa trụ trì thương mến. Từ đó Phật Bửu Tự là nơi tôi đi lại nhiều nhất và thân nhất trong tất cả các ngôi chùa trong thành phố này. Do vậy, hôm nay khi nhìn kỹ vị sư tôi nhận ra ngay là đã có gặp một đôi lần tại đây. Hồi ấy Thượng tọa trụ trì có kể cho tôi nghe về hạnh tu của vị sư này. Tôi ao ước được tiếp xúc với sư từ lâu và hôm nay nhân duyên đã đến. Bước vào phòng tôi hỏi:

- Bạch sư về trụ ở đây được mấy hôm rồi?

- Được hơn một tuần rồi. Mời thầy ngồi nghỉ!

Tôi nhận lời, bước qua ghế ngồi.

- Bạch sư, lâu nay sư ở tịnh xá nào?

Sư mỉm cười, chậm rãi đáp:

- Trò theo hạnh đầu đà, với tam y nhất bát đi chu du hành đạo khắp nơi không trụ một chỗ nào cố định. Đối với trò thì nơi nào cũng là tịnh xá cả. Thưa thật với thầy, sở dĩ kỳ này trò phải dừng lại ở đây khá lâu là vì chữa bệnh.

Tôi ngạc nhiên hỏi lý do bệnh. Sư tiếp:

- Không giấu gì thầy, cách nay hơn hai tháng trong lúc đang đi khất thực trò bỗng bị xây xẩm mặt mày rồi bị ngất xỉu trên đường. Đến chừng tỉnh lại thì thấy mình nằm trong Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Hỏi thăm các cô y tá mới rõ là bà con bộ hành đã đưa trò vào. Trong thời gian nằm viện, các bác sĩ cho biết thêm là trò có bệnh gan và phải lưu lại điều trị khá lâu.

Nhìn gương mặt và chân tay sư, tôi hỏi:

- Hình như sư bị phù thì phải?

Sư gật đầu:

- Mô Phật, phù đó thầy.

Sư kéo ống chân quần lên chỉ cho tôi xem. Nhìn ống chân và bàn chân sưng phù bóng láng, tôi tưởng tượng nó giống như đôi chân người chết trôi bị trương lên, chỉ có khác ở màu da là người chết thì trắng còn da sư thì vàng.

- Bệnh sư lúc này đã giảm chưa ạ?

- Cũng tàm tạm thầy à.

- Thế sao sư không ở lại bệnh viện chữa trị cho dứt luôn?

- Nằm gần hai tháng rồi còn gì. Vả lại nhà thương thì thiếu chỗ, bệnh mình cứ trơ trơ chẳng giảm bao nhiêu, trò xin xuất viện về chùa điều trị thuốc ngoài cho thoải mái hơn.

- Trong thời gian sư nằm viện như vậy thì ai thăm nuôi sư?

- Có ai đâu thầy!

- Ủa, không có Phật tử nào biết sư bệnh à?

Vẫn gương mặt bình thản, sư chậm rãi nói:

- Hạnh tu của trò ngày đi khất thực nuôi thân, tối đến giăng võng nơi gốc cây ngủ nghỉ. Có trụ nơi nào lâu đâu mà nhận đệ tử.

Dứt lời sư chỉ chiếc võng dù đang ngồi. Sư cho biết nó là phương tiện rất tốt cho việc du hành tha phương. Đến đâu sư chỉ việc kiếm chỗ cột hai đầu dây là có nơi nghỉ, nếu cần tránh muỗi và lạnh sư chỉ việc trùm chiếc y thượng lên mình là xong một đêm. Sáng ra sư cuốn gọn, cột tròn lại bỏ vào túi quảy đi. Nghe sư nói tôi hiểu, nhưng lại lấy làm lạ:

- Vậy tiền đâu sư chi tiêu trong thời gian nằm viện?

- “Thâm tín chư Phật giai sung mãn” mà thầy. Sư cười nhẹ. Lo cho mình không tu chớ lo gì túng thiếu. Thầy có tin là trò không một xu dính túi mà vẫn đầy đủ trong lúc nằm viện không?

- Có lẽ bệnh viện miễn phí cho sư?

- Không, trò chi trả hẳn hòi.

- Vậy sư có Thầy Tổ hay thân nhân trợ cấp?

- Cũng không nốt.

Nghe sư nói, lúc đầu tôi còn tin, nhưng bây giờ thì hơi hoài nghi. Nếu không có của riêng, không Phật tử, không Thầy Tổ và gia đình giúp đỡ thì tiền ở đâu mà sư chi dùng. Chả lẽ sư có phép thần thông “úm ba la” là tiền tự hiện ra! Tôi mỉm cười, lắc đầu.

Thấy tôi lộ vẻ không tin, sư gật gù thong thả nói:

- Có gì đâu mà thầy không nghĩ ra, thân nhân những người bệnh nằm cùng phòng thấy trò đơn độc nên đã cảm động bảo nhau giúp đỡ. Mỗi người một ít rồi đâu cũng vào đấy thầy ạ.

Tôi gật đầu, lòng thầm thán phục oai đức sư, vừa trò chuyện tôi vừa quan sát sư, cái thu hút tôi vẫn là giọng nói. Tiếng sư nói thật là trong thanh, nhẹ nhàng và chậm rãi từng chữ, từng câu rất rành rõ. Sư nói ra lời nào là chắc lời đó, không có sự gượng ép hay trau chuốt nhưng cũng chẳng vội vã cẩu thả. Dường như tất cả lời nói ra được thuần thục trong tự nhiên.

- Thế còn việc chữa trị căn bệnh của sư hiện nay ra sao?

- Mô Phật, trò vẫn theo toa bác sĩ mua thuốc uống, nhưng cũng chẳng kết quả bao nhiêu. À, thầy có quen ai làm việc tại Bệnh viện Nguyễn Trãi không?

Câu hỏi hơi bất ngờ nên tôi cố suy nghĩ. Lát sau tôi đáp:

- Dạ, để con về hỏi lại xem sao, nhưng sư cần gì?

- Trò nghe đồn nơi đó chuyên trị bệnh gan hay lắm.

Lúc ấy tôi nhìn thấy thầy Liêm đang đi ở hành lang và xin phép sư ra gặp thầy. Chúng tôi đang trò chuyện với nhau bỗng một tiếng “rầm” phát ra từ phòng sư, sàn gỗ rung rinh. Tôi và thầy Liêm hoảng hồn chạy vào, thì hỡi ơi, thầy sư đang nằm đo ván trên chiếc võng bị đứt dây. Chúng tôi ráng hết sức mới đỡ nổi tấm thân đồ sộ của sư lên giường. Sư cảm ơn và cười gượng nói:

- Không sao, chỉ hơi ê ẩm sau lưng một tí.

Sau đó tôi ra về.

Biết sư muốn điều trị tại Bệnh viện Nguyễn Trãi, tôi đã cố gắng hỏi thăm các Phật tử thân quen, nhưng không có ai làm việc nơi đó cả. Một số người cho biết bệnh viện này chỉ dành riêng cho cán bộ và công nhân viên nhà nước ở bậc cao mà thôi([3]).

Dò hỏi mấy hôm, thấy không hy vọng, tôi trở lại báo cho sư biết những trở ngại khó khăn ấy.

Trong lúc ngồi tâm sự, sư cho biết ý định là sẽ về núi tu tịnh và nếu bệnh tình bất giảm sư sẽ tuyệt thực bỏ xác trên đó để khỏi làm phiền mọi người. Sư còn kể thêm về người thầy của sư trước kia cũng vậy. Biết mình không còn trụ thế bao lâu nữa, ngài đã vào một hốc đá núi ngồi nhập định cho đến khi viên tịch. Lời kể ấy khiến tôi nhớ đến sự tích sư Vũ Khắc minh tại chùa Đậu ở miền Bắc mà tạp chí “Buddhists for peace” đã đăng tin. Ngài cũng nhịn ăn và ngồi nhập định cho đến khi hồn lìa khỏi xác. Thân thể khô dần, mặc dù đã trải qua hơn ba thế kỷ mà vẫn tồn tại. Nhìn gương mặt từ bi phúc hậu, với đôi mắt rực sáng đầy nghị lực lại thêm hạnh tu Đầu đà của sư, tôi tin chắc sư sẽ thực hiện được ý nguyện đó. Tuy nhiên tôi cũng khuyên sư cố tâm chữa bệnh để dùng huyễn thân này làm lợi lạc chúng sinh nhiều hơn. Sư mỉm cười cám ơn.

Ít hôm sau, tôi ghé thăm sư và được thầy Liêm báo tin là sư đã đi đâu từ hai ngày nay rồi. Rất ngạc nhiên tôi dò hỏi thì thầy Liêm cho biết:

- Hôm đi, sư có nói là đi trị bệnh và từ đó không thấy về nữa.

- Thế còn đồ đạc sư vẫn còn để đây chứ?

- Vẫn còn.

- Vậy sư có dặn dò thầy điều gì không?

- Không.

Nghe thầy Liêm nói tôi nhớ lại trước đây có lần tôi gặp sư ngồi thuyết pháp cho các Phật tử nghe. Sau khi giảng xong, sư đứng dậy quảy gói ung dung lên đường không hề luyến tiếc hay vướng bận một điều gì, ngay cả đến lời cầu thỉnh ở lại của Phật tử cũng không làm sư dừng bước du phương. Sư đến và đi như một con nhạn ngàn phương đăng trình. Không ai biết nơi sư sẽ đi và đến. Tuy nhiên ở vào trường hợp này thì tôi có thể dự đoán là sư sẽ đi về núi để thực hiện ý nguyện nhập cốc tuyệt thực. Nhưng để cho chắc ăn hơn, nhất là trong lúc sư đang đau yếu, hai chân lại sưng phù, e rằng điều không may sẽ xảy đến giống như lần trước, nên tôi bàn với thầy Liêm là đi tới các bệnh viện tìm thử. Trình ý kiến này lên Thượng tọa trụ trì Phật Bửu, người rất tán thành và hỗ trợ chiếc xe Honda để chúng tôi làm phương tiện tìm kiếm. Đến bệnh viện nào chúng tôi cũng hỏi thăm và xem sổ nhập viện có tên sư không. Cuối cùng đã tìm gặp sư tại Bệnh viện Nguyễn Trãi. Thật là một điều kỳ lạ và đầy bất ngờ! Vào đến phòng, chúng tôi thấy sư đang ngồi nói chuyện đạo lý cho các bệnh nhân nghe, vẫn gương mặt bình thản, không một chút ưu tư về những gì đã qua, ngay cả đến sự hiện diện của chúng tôi cũng không làm cho sư ngạc nhiên cho lắm. Thầy Giác Liêm trách sư sao quá vô tâm đến như thế. Đáng lẽ được nhập viện sư phải về cho chùa biết để khỏi lo lắng kiếm tìm. Riêng tôi chẳng than phiền gì hết, trái lại, còn lấy làm lạ vô cùng về sự hiện diện của sư tại một bệnh viện, nơi mà chỉ dành riêng cho cán bộ và nhân viên nhà nước! Để giải đáp những thắc mắc của chúng tôi, sư kể giọng nhỏ nhẹ:

- Thành thật với quý thầy, trò được nghe kể về tài chữa bệnh gan tại đây và đã nhờ nhiều người giới thiệu nhập viện để chữa trị mà không được. Thế rồi trò quyết định tự mình đến xin thử xem có “linh” không. Khi trình bày bệnh trạng với người trực viện, anh ta đòi phải có đầy đủ thủ tục như nội quy đã đề ra. Biết việc này cần phải trực tiếp với người có thẩm quyền, nên trò xin được vào gặp ông Giám đốc, nhưng rồi cũng bị từ chối luôn. Thế là hai món “bửu bối” đem ra xài đều không hiệu nghiệm, trò chỉ còn nước quay về. Vừa quảy gói trở ra thì may thay ông Giám đốc đi ngang qua và thấy trò ông liền ghé vào. Sau khi nghe người trực viện báo cáo, ông Giám đốc mời trò lên phòng riêng thăm hỏi rất ân cần. Hiểu được ý nguyện của trò, ông liền ký giấy cho nhập viện. Đầu đuôi sự việc diễn biến như vậy đó. Quý thầy thấy mình tu hành có nhiều “phép lạ” không?

Chúng tôi chỉ biết cười và gật đầu khâm phục sư. Nói chuyện với sư khoảng nửa giờ đồng hồ chúng tôi rời khỏi bệnh viện. Trên đường trở về chùa, những ấn tượng đẹp qua buổi tiếp xúc với sư lần này cứ gây cảm xúc trong tôi mãi. Cùng là con người với nhau, chẳng ai giống ai. Có những người khi nhìn qua tướng mạo tự nhiên trong lòng ta khơi dậy những tình cảm tốt đẹp, họ không hề hao hơi, tốn sức thuyết pháp mà vẫn làm rung động được trái tim kẻ khác, với phong thái trang nghiêm như dáng núi, gương mặt tươi vui như hoa nở, tất cả những đặc tính ấy là nguyên nhân chính giúp sư mau chóng thu phục lòng người. Phải chăng cái hảo tướng ấy phản ánh một nội tâm thuần khiết?

Thế rồi thời gian cứ âm thầm trôi qua. Thỉnh thoảng tôi có dịp ghé vào Phật Bửu Tự và biết tin sư qua lời kể của thầy Giác Liêm. Bệnh trạng của sư cũng thăng trầm như sự đời đổi thay thay đổi vô chừng. Tôi e rằng nếu tình trạng này kéo dài sư sẽ về núi theo gương Thầy Tổ thực hiện ý nguyện đã định.

Một tuần sau, thầy Liêm cho tôi biết là sư đã xin xuất viện và lại tiếp tục cuộc du hành. Lần này sư không về núi như tôi vẫn tưởng và cũng chẳng bộ hành như trước, mà là thủy hành! Một thân một thuyền với tam y nhất bát sư du phương trên những con sóng nhấp nhô trôi nổi đến mọi miền đất nước.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/01/2018(Xem: 17129)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 16675)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9827)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 6053)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12723)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 132996)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 9186)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7468)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6895)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.
19/10/2017(Xem: 22561)
Truyện thơ: Hoàng Tử Khéo Nói và Con Thủy Quái, (thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi PRINCE GOODSPEAKER AND THE WATER DEMON của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson) , Ngày xưa có một ông vua Trị vì đất nước rất ư công bằng Cạnh bên hoàng hậu đoan trang Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình. Thế rồi hoàng hậu hạ sinh Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng Nhà vua sung sướng vui mừng Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên Mong cho con lúc lớn lên Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai Vua bèn đặt tên con trai Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.