Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền Sư Đại Xả (1120 - 1180), Đời thứ 10, Thiền Phái Vô Ngôn Thông (Vào thời Vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông) 🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀

19/10/202103:30(Xem: 1154)
Thiền Sư Đại Xả (1120 - 1180), Đời thứ 10, Thiền Phái Vô Ngôn Thông (Vào thời Vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông) 🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀


 




Thiền Sư Đại Xả (1120 - 1180),
Đời thứ 10, Thiền Phái Vô Ngôn Thông
(Vào thời Vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông) 
🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺

Thuyết giảng: TT Thích Nguyên Tạng
Bài trình pháp: Cư Sĩ Quảng Tịnh Tâm & Cư Sĩ Huệ Hương
Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh ; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước






Nam Mô A Di Đà Phật

 

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay Thứ Ba 19/10/2021 (11/09/Tân Sửu)chúng con được học về Thiền Sư Đại Xả (? - 1170) , đời thứ 10, Thiền Phái Vô Ngôn Thông. Sư phụ dựa theo tài liệu gốc Thiền Sư Việt Nam do HT Thích Thanh Từ biên soạn và ấn hành tại VN vào năm 1972. Pháp thoại hôm nay là bài giảng thứ 299 của Sư Phụ bắt đầu từ mùa cách ly do bệnh đại dịch covid 19 (đầu tháng 5-2020).

  

Sư họ Hứa, quê ở phường Đông Tác (nay thuộc huyện Hoàng Long, Hà Đông). Xuất gia từ thuở bé, theo học với Thiền sư Đạo Huệ, nhận được chút ít yếu chỉ thiền học, Sư thường trì tụng kinh Hoa Nghiêm và thần chú của ngài Phổ Hiền làm việc thường nhật. 


Sư phụ giải thích:

Ý nghĩa đạo hiệu của Thiền Sư Đại Xả, là sự buông bỏ vĩ đại, Xả là một hạnh trong Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Người tu là buông bỏ những gì mà người thế gian đang tìm cầu, tranh giành và nắm giữ. Buông xuống được mới có an lạc. Đại xả là nền tảng đưa đến giải thoát và giác ngộ.

 

Thiền Sư Đại Xả là hành giả thọ trì Kinh Hoa Nghiêm và Thần Chú của Bồ Tát Phổ Hiền. Sư phụ đã phone hỏi thăm Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, ngài cũng là một hành  giả tu trì Mật Tông, HT Huyền Tôn đã cung cấp bài tâm chú của Phổ Hiền Bồ Tát như sau:

 Án bạt đề lễ, bạt đề lễ, Tô bạt đề lễ, bạt đà ra, bạt trí, trãn đà ra, tì ma lễ tóa ha.

Hành giả trì thần chú này 21 biến vào thuốc, vào nước để uống sẽ giúp các bệnh tiêu trừ, thân tâm an ổn.

 

Sư Phụ giới thiệu vắn tắt về Kinh Hoa Nghiêm có 8 quyển 40 phẩm do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch và ấn hành vào năm 1964,  trong đó có ba phẩm cuối quan trọng, đó là phẩm 38, 39 Nhập Pháp Giới và phẩm 40 Phổ Hiền Hạnh Nguyện.

 

Phẩm 38, 39 Nhập Pháp Giới kể về câu chuyện Thiện Tài Đồng Từ đi cầu pháp với 53 vị Thiện Tri Thức. Số 53 là biểu trưng cho 53 giai vị tu chứng của Bồ Tát hạnh, bao gồm: thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác và Phật quả. Trong số 53 vị này, có 4 vị Bồ Tát, đó là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát. Vị cuối cùng số 53 cũng chính là ngài Phổ Hiền Bồ Tát đã khuyến giao Thiện Tài Đồng Tử muốn thành tựu đạo quả phải tu theo 10 hạnh:

1/ Lễ kính chư Phật: lễ Phật mỗi ngày ,về sự là lễ Phật bên ngoài, Đức Thích Ca, Đức A Di Đà…,về lý là lễ kính vị Phật bên trong của chính mình.

2/Hai là xưng tán Như Lai.

3/Quảng tu cúng dường & bố thí:

Một hạt gieo nhân, trăm hạt thâu
Một đồng bố thí vạn đồng thâu
Ngân hàng phước báo ta nên gởi
 Lãi suất về sau mãi được thâu

Bố thí và cúng dường: là buông xuống cái tâm tham lam, bủn xỉn.

4/Sám hối nghiệp chướng: chí Thành sám hối mỗi ngày, vì sợ nhân quả nghiệp báo nên không phạm lỗi.

5/Tuỳ hỉ công đức, vui với niềm vui công đức của người, không tạo ra tật đố ganh tỵ.

6/Thỉnh Phật chuyển pháp luân: về lý mỗi hành giả phải lăn chuyển bánh xe pháp vào trong đời sống của bản thân mình.

7/Thỉnh Phật trụ thế: về lý là phải thỉnh Phật của chính mình thường trụ trong đời sống của mình trong mỗi phút mỗi giây, hầu đem lại sự an vui cho gia đình và xã hội.

8/Thường tùy học Phật: tuỳ theo thời gian và hoàn cảnh của bản thân mà học Phật, phải học Phật trước rồi mới áp dụng vào pháp hành để không lầm đường lạc lối.

9/Hằng thuận chúng sanh: hằng thuận chúng sanh để giúp họ đến gần với Chánh Pháp, tùy duyên bất biến để mang lợi lạc giải thoát cho họ.

10/ Phổ giai hồi hướng: những gì làm được từ 9 hạnh trên đều hồi hướng  cho tất cả chúng sanh.

 

 

Có lúc, Sư xõa tóc bỏ ăn, chỗ ở không nhất định. Các vương công đều quí kính, Kiến Ninh Vương và Công chúa Thiên Cực cũng rất kính trọng.

 

Sư phụ giải thích: lúc Ngài Đại Xả ở trên núi có thể không có phương tiện cạo tóc.

 

 

Sư thường ở Tuyên Minh Hỗ Nham lập chùa giáo hóa, học giả các nơi đến học rất đông. Có vị Tăng nước Tống hiệu Nham Ông, nghe tiếng Sư, cảm mộ đốt ngón tay để cúng dường. Có người nghi Sư dùng yêu thuật, nên trong khoảng niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175, Vua Lý Anh Tông) Thái úy Đỗ Anh Vũ ra lệnh bắt Sư vào giam, hành phạt nặng nề mà Sư không có vẻ sợ hãi. Sau đó, Sư được phóng thích.

Sư phụ giải thích:

- vào thời vua Lý Anh Tông, vì có vị tăng nước Tống đốt ngón tay cúng dường cho Sư, chính vì vậy mà Sư bị nghi là mật thám của Tàu nên bị bắt giam.

 

 

Vua Lý Anh Tông triệu Sư vào hỏi:

- Trẫm bị phiền muộn, Sư có thuật gì trị chăng?

Sư đáp:

- Pháp Mười hai nhân duyên là căn bản tiếp nối sự sống chết, cần lấy đó để trị, nó thật là phương thuốc hay vậy.

Vua hỏi:

- Ý chỉ nó thế nào?

Sư đáp:

- Vô minh là nhân duyên của Hành cho đến lo buồn khổ não, muốn cầu quả Bích-chi Phật nên nói Mười hai nhân duyên. Đem trị trong thân này thì không còn phiền não.

Vua hỏi:

- Thế thì, trẫm phải tĩnh tâm tu tập?

Sư đáp:

- Khi giữ được nghiệp thức yên tịnh, tức là lóng trong phiền não, không còn pháp nào khác đáng tu tập cả. Xưa kia vua Lương Võ Đế thường đem vấn đề này hỏi Thiền sư Bảo Chí, ngài Bảo Chí cũng đáp như thế. Hôm nay trộm nghĩ vì Bệ hạ đưa ra điều tương tợ ấy.


thich nguyen tang-2 (3)

 

Sư phụ giải thích:

- Nương theo tích chuyện xưa, Thiền Sư Bảo Chí khuyên vua Lương Võ Đế hàng phục tâm bệnh bằng pháp 12 Nhân Duyên,  nên Thiền sư Đại Xả cũng khuyên vua Lý Anh Tông áp dụng 12 Nhân Duyên để tự chửa trị bệnh sầu khổ.

- Mười hai nhân duyên là giáo lý cốt tủy của Đức Phật thành tựu đạo quả trong đêm thành đạo dưới cội Bồ đề, bao hàm giáo lý Tứ Diệu Đế:

Quán lưu chuyển: khổ đế và tập đế: “ Do vô minh có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi khỗ, ưu não hay toàn bộ khổ uẩn sinh”

 Quán hoàn diệt: diệt đế và đạo đế : “ Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt, do hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt; danh sắc diệt nên lục nhập diệt, lục nhập diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên lão sầu, bi, khỗ, ưu, não diệt. Như vậy toàn bộ khỗ uẩn đọan diệt. Này các Tỷ kheo như vậy gọi là đọan diệt ”.

 

Nhân quá khứ: vô minh, hành
Quả hiện tại: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ

Nhân hiện tại: ái, thủ, hữu
Quả vị lai: sanh, lão tử

 

- Nguyên do ban đầu là vô minh đen tối, muốn diệt vô minh phải có minh (ánh sáng trí tuệ), minh sanh thì vô minh diệt, như căn nhà tối đem đèn sáng vào thì bóng tối lập tức biến mất.

- Phật dạy do vô minh mà tạo nghiệp, nếu ngay khi khởi  tưởng vô minh mà chánh niệm tĩnh giác với tuệ tri nhận ra và dập tắt ngay thì nghiệp không thiết lập, nghiệp không tạo thì không còn tái sanh luân hồi khổ đau nữa. Tổ Sư Thiền theo ý này để tu, tuy đơn giản nhưng rất khó nhận ra, nếu không nhận ra thì phải tiệm tu theo lục độ vạn hạnh, từng bước một: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định để phát sanh trí tuệ, có trí tuệ rồi sẽ không còn vô minh để tạo nghiệp.

 

 

*
*   *

Đến ngày mùng 2 tháng 5 niên hiệu Trinh Phù thứ năm (1180, Lý Cao Tông), Sư gọi đệ tử dặn dò nói kệ:

Bốn rắn chung rương trước giờ không,
Núi cao năm uẩn đâu chủ ông.
Chân tánh sáng ngời không chướng ngại,
Niết-bàn sanh tử mặc che lồng.

(Tứ xà đồng khiếp bản lai không,
Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tông.
Chân tánh linh minh vô quái ngại,
Niết-bàn sanh tử nhậm già lung.)

Sư phụ giải thích:

Bài kệ rất súc tích ý nghĩa siêu tuyệt, lấy ý trong kinh Đại Bát Niết Bàn.

- Bốn rắn chung rương trước giờ không:

Xứ Ấn Độ là xứ nóng, rừng hoang có nhiều loài rắn. Đức Phật thường hay đem hình ảnh loài rắn để dạy đệ tử. Trong mỗi đệ tử Phật có bốn đại, biểu trưng bốn loại rắn: rắn hổ đất, nước, gió, lữa nuôi trong rương ngũ uẩn, chúnhg ít khi hoà hợp, cấu xé lẫn nhau rồi bỏ chạy, người chủ kiếm rương khác để nuôi, ý nói là khi thân tứ đại tan rã,  nghiệp thức tiếp tục đầu thai vào cõi khác để chịu khổ đau.

 

- Núi cao năm uẩn đâu chủ ông.

Năm uẩn, sắc thọ tưởng hành thức, không ai làm chủ, biểu trưng thân này không là của mình. Chân bị đau, không phải là tôi đau, không có cái gì của tôi cả, cái của tôi là do chấp ngã xưa nay mình quên tự đặt để rồi tự gọi tên, kỳ thật ngũ uẩn không có gì thuộc về mình.

 

Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya), Tập III, Thiên uẩn, chương I, Tương ưng uẩn, Phật dạy cách tận diệt ngã và ngã sở như sau: “Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc”.

 

 

Lại nói:

Ngựa đá nhe răng cuồng,
Ăn mạ ngày tháng kêu.
Đường cái người đồng qua,
Trên ngựa không người đi.

(Thạch mã xỉ cuồng nanh,
Thực miêu nhật nguyệt minh.
Đồ trung nhân cộng quá,
Mã thượng nhân bất hành.)

Sư phụ giải thích:

- Lời kệ di chúc của Thiền Sư Đại Xả muốn nhắn nhủ chúng đệ tử trong bài kệ này là bặt dứt suy nghĩ, suy nghĩ là vọng, là bắt đầu hành trình sanh tử khổ đau bất tận, nên giữ tâm an nhiên, không vọng tưởng, không suy lường. Rõ ràng bài kệ chỉ đọc chữ nghe thôi mà không để cho đệ tử biện giải nghĩa lý, thật là đúng theo chủ trương ban đầu của Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma là “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, kiến tánh thành Phật.

 

 Nói kệ xong, đến canh năm Sư an nhiên thị tịch, thọ thế sáu mươi mốt tuổi.

 

  

Cuối bài giảng, Sư Phụ diễn ngâm bài thơ tán thán công hạnh của Thiền Sư Đại Xả do Thượng Tọa Chúc Hiền sáng tán cúng dường Ngài:

 

 

Thuở nhỏ nương thầy nguyện xuất gia
Sớm hôm kinh kệ dưỡng tâm hoa
Hoa Nghiêm, thần chú chuyên lòng tụng
Phật Đạo hương thiền tịnh đức hoà
Gương hạnh sáng soi ngời chí nguyện
Lý mầu chiếu tỏa rực thiền na
Thiền thi lưu xuất trao huyền chỉ
Tổ ấn trùng quang rạng sơn hà

 

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban giảng về Thiền Sư Đại Xả. Xả là hạnh tu quan trọng trong bốn hạnh tu Từ Bi Hỉ Xả, là nền tảng của giác ngộ và giải thoát. Sư thường trì tụng kinh Hoa Nghiêm, trong mười Hạnh Nguyện Phổ Hiền, hạnh thứ nhất, Lễ kính Chư Phật là quan trọng, là lễ kính Phật trong tự tánh của chính mình và hồi hướng cho tất cả chúng sanh đồng lợi lạc trên đường tu.

Ngoài ra Sư còn giúp trị bệnh phiền não cho Đức Vua là giữ nghiệp thức thanh tịnh, lắng trong phiền não, dùng Trí tuệ diệt vô minh, là giáo lý cốt tủy của Đức Thế Tôn truyền dạy 26 thế kỷ trước. 

 

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Cung kính và tri ơn Sư Phụ,

Đệ tử Quảng Tịnh Tâm

(Montréal, Canada).

 

 



299_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Dai Xa


Thiền Sư Đại Xả (1120 - 1180)
Đời thứ 10, Thiền Phái Vô Ngôn Thông
(Vào thời Vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông)

Kính dâng Thầy bài trình pháp về Thiền Sư Đại Xả với lòng thành kính và tri ân Thầy đã chỉ rõ giáo lý tinh yếu của Đức Phật Lý Duyên Khởi và đặc biệt nhất là sự tương quan mật thiết với Tứ Diệu Đế mà chỉ có một năm gần đây khi học lại Kinh Trung Bộ con mới thọ nhận và hôm nay một lần nữa Thầy đã xác quyết khiến con hồ hỡi và phấn khích vô cùng . Hơn thế nữa Thần Chú Phổ Hiền được truyền trao từ Hoà Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn cũng đã minh chứng đúng thời đúng lúc, đại duyên sẽ đến ...Con có chút căn cơ Mật Tông nên đã tìm thấy nhiều linh nghiệm khi trì chú này qua YouTube được vài năm gần đây . Kính đảnh lễ Thầy, kính chúc sức khỏe Thầy, HH 


Khi đọc đến hành trạng và bài thi kệ thị tịch của Thiền Sư Đại Xả ( đệ tử truyền thừa đời thứ 10 của Thiền phái Vô Ngôn Thông, một thiền  phái chịu ảnh hưởng Trung Hoa và  Nam Phương đốn ngộ của Lục Tổ Huệ Năng ) hẳn chúng ta đều nhận ra hai phần rõ rệt trong bài thi kệ ấy .

Phần đầu với cái nhìn sâu sắc nhất, tế nhị nhất, mầu nhiệm nhất trên nền tảng giáo lý 12 nhân duyên. Điều này đã được Như Lai dạy: Ai thấy Duyên Khởi thì thấy pháp, ai thấy Pháp thì thấy Duyên Khởi. Những pháp này thì do duyên tạo ra: đó là Năm thủ uẩn. Bất cứ sự ham muốn dục lạc, ưa thích, nắm giữ nào đối với Năm thủ uẩn đều là sự sinh khởi của khổ đau. Bất cứ sự chế ngự tham ái, chấp thủ, sự từ bỏ tham ái và chấp thủ nào đối với Năm thủ uẩn đều là sự đoạn diệt khổ đau. 

Bốn rắn chung rương trước giờ không,
Núi cao năm uẩn đâu chủ ông.
Chân tánh sáng ngời không chướng ngại,
Niết-bàn sanh tử mặc che lồng.

(Tứ xà đồng khiếp bản lai không,

Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tông.

Chân tánh linh minh vô quái ngại,

Niết-bàn sanh tử nhậm già lung.)

Và chính những danh từ Bốn rắn chỉ cho tứ đại  trích từ Phẩm thứ 23 trong Kinh Đại Bát Niết Bàn .

Nhưng đoạn hai lại lấy căn bản của Bồ Đề Đạt Ma( Bất lập văn tự có nghĩa là vốn thoát ly danh từ ngôn ngữ ...vì sẽ tạo ra  nhiều khởi tưởng suy niệm tư duy phân biệt  không nằm trong thế giới hiện tại 

Nên ...Lại nói:

Ngựa đá nhe răng cuồng,
Ăn mạ ngày tháng kêu.
Đường cái người đồng qua,
Trên ngựa không người đi.

(Thạch mã xỉ cuồng nanh,

Thực miêu nhật nguyệt minh.

Đồ trung nhân cộng quá,

Mã thượng nhân bất hành.)

Kính trộm nghĩ :

Điều này không lấy làm ngạc nhiên lắm vì nó được nuôi dưỡng với thời gian hành trì Giáo Lý Kinh Hoa Nghiêm của Ngài và trì chú Phổ Hiền Bồ tát mỗi ngày

 (Sư thường trì tụng kinh Hoa Nghiêm và thần chú của ngài Phổ Hiền làm việc thường nhật. ) 

Kinh Hoa Nghiêm lại đại biểu cho tư tưởng Phật Pháp đại-thừa về lý hữu hóa duyên sanh của vạn pháp.với trùng trùng duyên khởi và ...chính Giáo lý duyên khởi lại bao trùm Nhân và Quả trong Tứ Diệu Đế . Chính giáo lý Duyên Khởi đặc biệt giải thích về trạng thái đau khổ con người do đâu sinh ra. Tất cả là do 12 Duyên Khởi.

 Bằng vào tuệ giác siêu việt, Đức Phật tự kiến giải, rồi khai thị cho chúng ta hiểu. Đó là một vòng tròn tuy nói là khép kín, nhưng cũng có cách để chúng ta phá vỡ nó. Chỉ cần chúng ta diệt một trong các mắt xích, mà quan trọng nhất là mắt xích Vô Minh và Ái dục thì tự động cái vòng phiền não này sẽ tan rã.

Nếu chúng ta chịu tu tập theo các giáo lý mà Đức Thế Tôn đã giảng dạy thì sẽ cắt đứt được Vô Minh và Ái dục. Những giáo lý đó là Tứ Diệu Đế, Ngũ Uẩn, Nhân Quả, biết tàm quý, sám hối chừa bỏ những lỗi lầm, tu theo Giới Định sẽ Sinh Tuệ theo Bát Chánh Đạo theo chu trình như sau 

Nhân quá khứ ( vô minh  ->tham ái tạo nghiệp  ->TẬP ĐẾ ) làm có Quả hiện tại ( sanh tử luân hồi -> KHỔ 

Nhân hiện tại (   Chuỗi  vô minh, hành , thức.... bị cắt do tu Bát chánh Đạo -> ĐẠO ĐẾ ) sẽ cho Quả tương lai ( không còn tái sinh trong ba cõi sáu đường -> DIỆT ĐẾ )  

Như vậy 

Giáo lý Duyên khởi bắt đầu từ vô minh đến già chết như sau: “vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc ...; hữu duyên sinh; sinh duyên già chết...] đức Phật trình bày chi phần vô minh trước tiên trong chuỗi 12 chi phần nhân duyên để nói lên sự nguy hiểm của vô minh và tầm quan trọng của việc giác ngộ. Trước nhất Ngài chỉ dạy về nguyên nhân quá trình hiện hữu của đời sống. Đời sống hiện hữu của chúng ta với những khổ đau của kiếp người, nào sinh, già, bệnh chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; nào sự tái sinh trong Tam giới, Lục đạo đều có nguồn gốc từ vô minh. Có vô minh tức có tái sinh, có đau khổ. Ở đây Phật nói lên cái nguyên nhân căn để của khổ đau để cảnh tỉnh chúng ta. Ngài chỉ đích danh vô minh như khởi điểm của mọi tiến trình sinh tử, như xuất phát điểm của 12 chi phần duyên khởi. Mặc dù vô minh cũng mang tính duyên sinh, không phải nguyên nhân đầu tiên. Tuy vậy, vô minh vẫn đóng một vai trò rất lớn trong toàn bộ 12 chi phần duyên khởi, một trong những động cơ chính tạo nghiệp sinh tử. Phật dạy duyên khởi bắt đầu từ vô minh là có mục đích để người nghe thấy sự nguy hiểm của tâm lý si mê lầm lạc tai hại biết chừng nào. Chính tâm si mê không biết chính đạo đã khiến cho chúng sinh phải luân chuyển trong lục đạo luân hồi:vì 

‘Do duyên Vô minh, Hành sinh; do duyên Hành, Thức sinh; do duyên Thức, Danh-sắc sinh; do duyên Danh sắc, Lục nhập sinh; do duyên Lục nhập, Xúc sinh do duyên Xúc, Thọ sinh; do duyên Thọ; Ái sinh, do duyên Ái; Thủ sinh, do duyên Thủ; Hữu sinh, do duyên Hữu; Sinh sinh, do duyên Sinh, Lão tử sinh, do duyên Lão tử, sầu - bi - khổ - ưu - não sinh. Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỷ kheo, đây gọi là ‘Duyên Khởi’.

Nhưng từ sự tan biến và chấm dứt hoàn toàn Vô minh, Hành chấm dứt; từ sự chấm dứt của Hành, Thức diệt; do Thức diệt mà Danh - sắc diệt...; do Sinh diệt, mà Lão - tử - sầu - bi - khổ - ưu não diệt. Như vậy là sự chấm dứt hoàn toàn toàn bộ khổ uẩn này’

. Nếu chúng ta chịu tu tập theo các giáo lý mà Đức Thế Tôn đã giảng dạy thì sẽ cắt đứt được Vô Minh và Ái dục. Những giáo lý đó là Tứ Diệu Đế, Ngũ Uẩn, Nhân Quả, biết tàm quý, sám hối chừa bỏ những lỗi lầm, tu theo Giới Định Huệ v.v...

          "- Này các Tỳ Kheo, đây chính là Khổ thánh đế: Sinh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ, thân ái biệt lylà khổ, cầu không được là khổ, tóm lại chấp thủ năm uẩn là khổ.

          "- Này các Tỳ Kheo, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỷ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.

          "- Này các Tỳ Kheo, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ xả ly, giải thoát, tự tại đối với các ái.

          "- Này các Tỳ Kheo, đây chính là Đạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt khổ, chính là con đường thánh tám ngành: Chính kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định."

Và điểm đặc biệt nhất là Thần chú của Phổ Hiền Bồ Tát , chắc hẳn thần chú phải đọc sau khi Ngài đã tâm tâm niệm niệm mười đại hạnh trước mà người tu bất cứ pháp môn nào cũng  phải kinh qua . Đó là 

  1. Lễ kính chư Phật.
  2. Xưng tán Như Lai.
  3. Quảng tu cúng dường.
  4. Sám hối nghiệp chướng.
  5. Tùy hỷ công đức
  6. Thỉnh chuyển pháp luân
  7. Thỉnh phật trụ thế:
  8. Thường tùy phật học
  9. Hằng thuận chúng sinh
  10. Phổ giai hồi hướng

Nhưng điều chúng ta học được nơi Ngài một thần chú hoá giải nghiệp chướng, tiêu trừ bịnh  tật và luôn có thân tâm an lạc của Đức Phổ Hiền Bồ Tát đã được Hoà Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn truyền trao đến Giảng Sư TT Thích Nguyên Tạng qua bài pháp thoại nầy( trong mùa đại dịch )  ....thật mầu nhiệm vi diệu 

Kính xin ghi lại theo lời đọc của Giảng Sư 

ÁN BẠT ĐỀ LỄ , BẠT ĐỀ LỄ , TÔ BẠT ĐỀ LỄ, BẠT ĐÀ RA BẠT TRÍ   TẢN ĐÀ RA, TỲ MA LỆ TOÁ HA 

Thật là một điều trùng hợp quá nhiệm mầu ....vì từ lâu  người viết đã tụng thần chú Phổ Hiền mỗi sáng  bằng tiếng phạn ... tương tự âm nhưng không biết phải đúng không ( xin được thứ lỗi nếu sai sót ) 

AH  AH SHASA MAHA MAME- DHARMA RARA HATANGA  AH  SHALA  SHAME  DHAMA DALI  GHAHANA AHLIDA  HAMA SHASA GIYO

https://youtu.be/HurQEIIh62U

Lời kết : 

Kính ngưỡng Thiền Sư Đại Xả với đạo hiệu được tiêu biểu cho một hạnh rất quan trọng trong Tứ Vô Lượng Tâm ( cũng là một hạnh mà bất cứ người Phật tử nào cũng phải thực hành cho được vì đó là nền tảng dẫn đến Giác Ngộ Giải Thoát ) 

Bài kệ thị tịch lưu lại cho hàng hậu học chúng con  là một pháp bảo trân quý trên bước đường tu tập theo dấu Như Lai.

Kính trân trọng, 

"Một sự Buông Xả Vĩ Đại"  
Tuyệt vời thay ...Đạo  hiệu Thiền Sư Đại Xả ! 
Đời thứ 10 thiền phái Vô Ngôn Thông, (1) 
Kinh Hoa Nghiêm, thần chú Phổ Hiền niệm nằm lòng (2) 
Tuyên Minh Hồ Nham lập chùa giáo hoá (3) 
Kiến Ninh Vương , Công Chúa Thiên Cực cùng nhiều học giả 


Do đàm tiếu đố kỵ , ngục tù bị hàm oan ( 4) 
Hình phạt nặng nề , không hề sợ hãi oán than
Có lẽ hằng thuận chúng sinh ... 
.....trong Thập Quảng Đại Nguyện Vương Phổ Hiền Bồ Tát? (5) 

Kính đa tạ Giảng Sư .. thật biện tài quảng bác 
Từng câu kệ bài thị tịch chỉ rõ ngọn ngành (6) 
Cốt lõi giáo lý duyên sinh ... nhân quả kết thành 
Tương quan Tứ Diệu Đế ...vì sao luân hồi sinh tử (7)

Kính đảnh lễ  ....Hoà Thượng Bảo Vương Tự 
Thần Chú Phổ Hiền sưu lục đã truyền trao (8)
 Hàng  hậu bối  ....tiếp nhận sự vi diệu nhiệm mầu 
Giúp tiêu trừ  bịnh tật, thâm tâm an lạc !

Kính tri ân Giảng Sư ...
....Như Lai  Sứ hoàn thành viên mãn  công tác ! 
Pháp bảo đang giáo truyền trong kiếp hiện tại này 
Chân lý uyên nguyên ..nhập pháp giới đồng tử Thiện Tài (9)
Kinh Hoa Nghiêm ....Tư tưởng Đại Thừa Phật Pháp ! 

Nam Mô Thiền Sư Đại Xả tác đại chứng minh 
Huệ Hương 
Melbourne 19/10/2021 


thich nguyen tang-2 (1)thich nguyen tangthich nguyen tang-2 (2)thich nguyen tang-2 (4)





Chú thích : 

(1) Sư họ Hứa, quê ở phường Đông Tác (nay thuộc huyện Hoàng Long, Hà Đông). Xuất gia từ thuở bé, theo học với Thiền sư Đạo Huệ, nhận được chút ít yếu chỉ thiền học

(2)Sư thường trì tụng kinh Hoa Nghiêm và thần chú của ngài Phổ Hiền làm việc thường nhật. 

Có lúc, Sư xõa tóc bỏ ăn, chỗ ở không nhất định

(3) Các vương công đều quí kính, Kiến Ninh Vương và Công chúa Thiên Cực cũng rất kính trọng.

Sư thường ở Tuyên Minh Hỗ Nham lập chùa giáo hóa, học giả các nơi đến học rất đông. 

(4) 

Có vị Tăng nước Tống hiệu Nham Ông, nghe tiếng Sư cảm mộ đốt ngón tay để cúng dường. Có người nghi Sư dùng yêu thuật, nên trong khoảng niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175) Thái úy Đỗ Anh Vũ ra lệnh bắt Sư vào giam, hành phạt nặng nề mà Sư không có vẻ sợ hãi. Sau đó, có lệnh thả Sư.

(5) 

Lúc bấy giờ ngài Phổ Hiền đại Bồ Tát khen ngợi công đức thù thắng của đức Như Lai rồi, bèn bảo các vị Bồ Tát và Thiện Tài rằng:

- Này thiện nam tử! Công đức của Như Lai, giả sử cho tất cả các đức Phật ở mười phương, trải qua số kiếp nhiều như cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật diễn nói không ngừng, cũng không thể trọn hết được. Nếu ai muốn trọn nên công đức của Phật, thời phải tu mười điều hạnh nguyện rộng lớn. Những gì là mười điều? 

Một là lễ kính các đức Phật. 

Hai là khen ngợi các đức Như Lai. 

Ba là rộng sắm đồ cúng dường. 

Bốn là sám hối các nghiệp chướng. 

Năm là tùy hỷ các công đức. 

Sáu là thỉnh đức Phật thuyết pháp. 

Bảy là thỉnh đức Phật ở lại đời. 

Tám là thường học đòi theo Phật. 

Chín là hằng thuận lợi chúng sanh. 

Mười là hồi hướng khắp tất cả.

(6)

Vua cho vời vào hỏi:

- Trẫm bị phiền muộn, Sư có thuật gì trị chăng?

Sư đáp:

- Pháp Mười hai nhân duyên là căn bản tiếp nối sự sống chết, cần lấy đó để trị, nó thật là phương thuốc hay vậy.

Vua hỏi:

- Ý chỉ nó thế nào?

Sư đáp:

- Vô minh là nhân duyên của Hành cho đến lo buồn khổ não, muốn cầu quả Bích-chi Phật nên nói Mười hai nhân duyên. Đem trị trong thân này thì không còn phiền não.

Vua hỏi:

- Thế thì, trẫm phải tĩnh tâm tu tập?

Sư đáp:

- Khi giữ được nghiệp thức yên tịnh, tức là lóng trong phiền não, không còn pháp nào khác đáng tu tập cả. Xưa kia vua Lương Võ Đế thường đem vấn đề này hỏi Thiền sư Bảo Chí, Bảo Chí cũng đáp như thế. Hôm nay trộm vì Bệ hạ đưa ra điều tương tợ ấy.

*

Đến ngày 2 tháng 5 niên hiệu Trinh Phù thứ năm (1180), Sư gọi đệ tử dặn dò nói kệ:

Bốn rắn chung rương trước giờ không,
Núi cao năm uẩn đâu chủ ông.
Chân tánh sáng ngời không chướng ngại,
Niết-bàn sanh tử mặc che lồng.

(Tứ xà đồng khiếp bản lai không,

Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tông.

Chân tánh linh minh vô quái ngại,

Niết-bàn sanh tử nhậm già lung.)

Lại nói:

Ngựa đá nhe răng cuồng,
Ăn mạ ngày tháng kêu.
Đường cái người đồng qua,
Trên ngựa không người đi.

(Thạch mã xỉ cuồng nanh,

Thực miêu nhật nguyệt minh.

Đồ trung nhân cộng quá,

Mã thượng nhân bất hành.)

Nói kệ xong, đến canh năm Sư tịch, thọ sáu mươi mốt tuổi.

(7)  

Dưới cội Bồ đề, đức Phật khởi lên ý nghĩ:

* Không có Sinh thì Khổ đau không có mặ
* Không có Hữu thì Sinh không thể có mặt.
* Không có Thủ thì Hữu không thể có mặt;
* Không có Ái thì Thủ không thể có mặt.
* Không có Thọ thì Ái không thể có mặt.
* Không có Xúc thì Thọ không thể có mặt.
* Không có Lục nhập thì Xúc không thể có mặt.
* Không có Danh sắc thì Lục nhập không thể có mặt.
* Không có Thức thì Danh sắc không thể có mặt.
* Không có Hành thì Thức không thể có mặt.
* Không có Vô minh thì Hành không thể có mặt.

Như thế, Vô minh là suối nguồn của dòng đời khổ đau. Nhưng nó là do duyên mà sinh, chứ không phải là nguyên nhân đầu tiên như đức Phật đã giảng.

‘Này các Tỷ kheo, điểm khởi đầu của Vô minh là không thể biết được để nói rằng: ‘trước đó Vô minh không có mặt; Vô minh có mặt từ đó’. Này các Tỷ kheo, lời nói này được tuyên bố. : Vô minh là do duyên này duyên kia mà sinh khởi’ 

Ở đây Phật nói lên cái nguyên nhân căn để của khổ đau để cảnh tỉnh chúng ta. Ngài chỉ đích danh vô minh như khởi điểm của mọi tiến trình sinh tử, như xuất phát điểm của 12 chi phần duyên khởi. Mặc dù vô minh cũng mang tính duyên sinh, không phải nguyên nhân đầu tiên. Tuy vậy, vô minh vẫn đóng một vai trò rất lớn trong toàn bộ 12 chi phần duyên khởi, một trong những động cơ chính tạo nghiệp sinh tử. Phật dạy duyên khởi bắt đầu từ vô minh là có mục đích để người nghe thấy sự nguy hiểm của tâm lý si mê lầm lạc tai hại biết chừng nào. Chính tâm si mê không biết chính đạo đã khiến cho chúng sinh phải luân chuyển trong

(8) 

Hoà Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn đã tuyền cho Giảng Sư Thích Nguyên Tạng thần chú Phổ Hiền trong bộ Mật Tông như sau 

ÁN BẠT ĐỀ LỄ , BẠT ĐỀ LỄ , TÔ BẠT ĐỀ LỄ, BẠT ĐÀ RA BẠT TRÍ   TẢN ĐÀ RA, TỲ MA LỆ TOÁ HA .

(9) 

Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

Hoa Nghiêm tiếng Phạn là Avatamsaka, có nghĩa là đóa hoa thanh khiết tuyệt đẹp nhất trần gian, ngát hương khắp mười phương các cõi pháp giới.

Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn. 

Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước. 

Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. 

Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả. Đó là bản tánh vô ngại của Tâm. 

Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể. Đó là ý nghĩa căn cốt của Kinh Hoa Nghiêm.

Ngoài ra Kinh Hoa Nghiêm còn là một thông điệp, một bài học phong phú sinh động muôn đời, trao gởi cho hành giả có tâm hướng thượng đại-thừa, tu là cần phải học phải hành qua hình ảnh Thiện Tài đồng tử tham bái cầu học đạo với năm mươi ba vị thiện tri thức, là bằng chứng cho ta thấy rằng tu học đạo bồ-đề điều tiên quyết cần phải khắc phục nội tâm cống cao ngã mạn, dục vọng loạn tưởng; ngoài thân khiêm cung cầu tiến hành trì phương pháp Hoa Nghiêm tuyệt đỉnh, tìm chân sư liễu ngộ mới mong hiển lộ được Phật tánh chơn tâm của mình.

  • 53 vị thiện tri thức tiêu biểu cho 53 địa vị tu chứng từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh , Thập Hồi Hướng, Thập Địa đến Đẳng Giác, Diệu Giác , Phật
  • Vị Bồ Tát thứ 53 chính là Ngài Phổ Hiền Bồ Tát 



facebook
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn