Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 3: Lớp A: Lược Sử Đức Phật Thích Ca (Từ Thành đạo đến nhập Niết bàn)

14/12/201920:00(Xem: 647)
Bài 3: Lớp A: Lược Sử Đức Phật Thích Ca (Từ Thành đạo đến nhập Niết bàn)

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi- Tân Tây lan
KHÓA TU HỌC PHẬT PHÁP ÚC CHÂU kỳ 19
được tổ chức tại Capital Country Holiday Park, 47 Bidges Road, Sutton  NSW  2620
(Canberra, từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019)

***

LỚP A (NGƯỜI LỚN)

Bài  3:  

LƯỢC SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA (phần 2)

Từ Thành đạo đến nhập Niết bàn 

Biên soạn: HT Thích Thiện Hoa

Giáo thọ: TT Thích Nhuận Chơn

A. MỞ ĐỀ: 

Trong bài trước, chúng ta đã thấy đức Phật Thích-Ca vì một đại nguyện lớn lao, vì một lòng từ bi vô bờ bến mà xuất gia tìm đạo. Sau khi giác ngộ, Ngài không vội nhập Niết-bàn, mà nghĩ ngay đến sứ mạng của Ngài là: Thay thế chư Phật đời trước, tiếp tục chuyển mê khai ngộ cho tất cả mọi người. 

Sứ mạng ấy Ngài biết trước không phải dễ dàng, vì cái đạo của Ngài thì cao thâm huyền diệu, mà chúng sinh căn cơ lại không đều, và từ muôn kiếp đã lặn hụp trong si mê lầm lạc, khó có thể nhận hiểu được ngay ý nghĩa cao thâm của giáo lý Ngài. Chúng sinh từ lâu đời lâu kiếp quen sống trong bóng tối của si mê, ngày nay chắc không khỏi chóa mắt, hoảng sợ khi tiếp xúc với ánh sáng bừng chói của trí tuệ. 

Nhưng Ngài xét biết rằng mặc dù sống trong tăm tối, nhưng mỗi chúng sinh đều có mầm Phật tánh, như hoa sen, mặc dù sống trong bùn, nhưng vẫn tỏa nhụy vàng thơm ngát. Ngài cương quyết thực hiện sứ mạng của mình. 

B. CHÁNH ĐỀ 
I. SỰ HÓA ĐỘ RỘNG LỚN VÀ CÙNG KHẮP CỦA ĐỨC PHẬT
Sứ mạng hóa độ của đức Phật, như chúng ta đã biết, thật nặng nề và khó khăn. Nhưng nhờ trí tuệ sáng suốt, lòng từ bi rộng lớn, nhờ tinh thần bình đẳng triệt để và nhờ ý chí dũng mãnh không thối chuyển, mà Đức Phật đã hoàn thành sứ mạng của mình một cách viên mãn. Trong khi hóa độ, Ngài đã dựa theo ba nguyên tắc sau đây: 
1. Hóa độ theo thứ lớp căn cơ.  
Khi bắt đầu đi truyền đạo, ý nghĩ trước tiên của Ngài là đến vườn Lộc Uyển tìm mấy người bạn đồng tu với Ngài trước kia để thuyết pháp. Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều-Trần-Như, Ác-Bệ, Thập-Lực, Ma-Ha-Nam và Bạc-Đề. Bài thuyết pháp đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Năm vị nầy đều được khai ngộ, và trở thành 5 đệ tử đầu tiên của Phật. Kế đó Phật thuyết luôn trong 3 tháng cho 55 người Bà-la-môn, mà người đứng đầu là ông Da-Xá, 55 người nầy đều xin qui y theo Phật, và hợp với 5 người trong nhóm ông Kiều-Trần-Như thành 60 đệ tử. 60 người đệ tử này sau khi giữ đúng giới luật, được Phật thọ ký cho đi truyền đạo khắp nơi. 
Đức Phật rời vườn Lộc Uyển đi về phía Nam đến xứ Ưu-lầu-tần-loa và hàng phục một vị tổ sư rất có uy tín của đạo Thờ Lửa là ông Ma-ha Ca-Diếp và hai người em của ông. Ông Ca-Diếp mang tất cả số đệ tử của mình là 1.250 vị, xin qui y theo Phật. 
Nhớ lại lời hẹn xưa với vua Tần-bà-xa-la, Ngài đến xứ Ma-kiệt-đà vào thành Vương-xá để độ cho vua. Vua Tần-bà-xa-la gặp lại Ngài, vui mừng khôn xiết, truyền xây cất tịnh xá Trúc Lâm, để thỉnh Phật và chư tăng ở lại thuyết pháp độ sinh. 
Trong lúc Phật ở tịnh xá Trúc Lâm, thì vua Tịnh-Phạn nghe tin Ngài đã thành Phật, truyền sứ-giả đi thỉnh Ngài về thành Ca-tỳ-la-vệ.Nhưng 9 lần 9 sứ giả đi đều biệt tăm, không trở lại.Thì ra những người này khi đến Trúc Lâm tịnh xá nghe Phật thuyết pháp, đã say mê quên sứ mạng của mình và xin thọ giới xuất gia.Lần thứ 10, Tịnh-Phạn vương sai một cận thần thân tín là Ưu-Đà-Di, mới thỉnh được Phật về.Trên đường từ thành Vương-xá trở về Ca-tỳ-la-vệ, đức Phật đã thuyết pháp độ cho không biết bao nhiêu người.Về thành Ca-tỳ-la-vệ, Ngài ở lại 7 ngày. Mặc dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi ấy, Đức Phật đã cảm hóa tất cả dòng họ Thích và tất cả những người trong dòng họ này đều xin qui y và một số lớn xin xuất gia theo Phật, như các ông: Nan-Đà, A-Nan-Đà, A-Nâu-Lâu-Đà, La-Hầu-La... 
Sau khi trở về thăm gia đình và quê hương, đức Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền đạo.Ngài đi đến thành Xá-vệ là kinh đô nước Kiều-tát-la, thuộc quyền thống trị của vua Ba-tư-nặc. Ở thành này, có một vị đại thần tên là Tu-Đạt-Đa, giàu lòng bố thí cho những kẻ bần cùng, nên được gọi danh hiệu là Cấp-cô-độc Trưởng giả .Ông rất ngưỡng mộ đức Phật nên đã trút hết tất cả tiền của vàng bạc trong kho ra mua khu vườn rộng lớn của thái tử Kỳ-Đà để làm tịnh xá cho Phật và đệ tử của Ngài ở, thuyết pháp độ sinh. 
Được ít lâu nghe tin vua Tịnh-Phạn đau nặng, sắp băng hà, Đức Phật vội trở về thăm cha lần cuối cùng. Thấy phụ thân buồn rầu trên giường bịnh, Phật thuyết về  "Lẽ vô thường, khổ, không, vô ngã" cho vua nghe. Nghe xong, vua liền dứt phiền não, gương mặt vui tươi, cất tiếng niệm Phật, rồi băng hà một cách êm ái. 

Sau khi Tịnh-Phạn vương mất, bà mẹ nuôi của Phật là Ma-Ha-Ba-Xà-Ba-Đề và bà Da-Du Đà-La cùng nhiều người bên nữ giới họ Thích xin được phép xuất gia. Từ đó trong đạo Phật lần đầu tiên có hàng Tỳ kheo ni. 
Đức Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền đạo, đi đến đâu Ngài cũng được sùng mộ, tin theo và nhiều người noi theo gương của ông Cấp-cô-độc lập tịnh xá, cất giảng đường để Ngài thuyết pháp độ sinh. 
Như thế chúng ta thấy đức Phật đã tuần tự hóa độ và kết nạp đệ tử, từ những hạn người đủ căn trí dễ hiểu thấu giáo lý của Ngài rồi mới rộng ra những người khác; lập Tỳ kheo trước rồi Tỳ kheo ni sau. 


phat thuyet phap


2- Hóa độ tùy phương tiện.  

Trong suốt thời gian đi thuyết pháp độ sinh, lắm khi đức Phật cũng gặp nhiều cảnh gay go trái ngược do lòng đố kỵ của ngoại đạo, tà giáo, hay lòng ganh ghét của nội thân quyến thuộc gây ra. Nhưng lúc nào Ngài cũng tùy phương tiện để cảm hóa họ, và đưa họ về đường ngay lẽ phải. Chẳng hạn, khi thì Ngài bị cô gái con ngoại đạo độn bụng giả có chửa đến giữa đạo tràng để vu oan cho Ngài; khi thì Ngài bị anh chàng Vô-não đuổi theo quyết giết Ngài để lấy ngón tay góp thêm cho đủ số một ngàn ngón mà nó đã giết người để lấy, vì theo thuyết tà đạo, nó tin rằng có làm được như thế mới chứng quả; khi thì Phật bị Đề-Bà-Đạt-Đa, người em họ hung ác, âm mưu hãm hại Phật bằng cách thả voi say cho chạy đến chà đạp Phật, hay lăn đá to từ trên núi cao xuống đè Phật. 
Nhưng tất cả những âm mưu ấy đều vô hiệu quả, vì oai đức uy danh và trí huệ của Phật bảo bọc Phật, không một hành động xấu xa nào có thể thắng Phật được.Ngài có đủ phương tiện khôn ngoan khéo léo, xoay chiều đổi hướng dễ dàng, hoán cải được tất cả những nghịch cảnh trở thành thuận lợi.Và cuối cùng kẻ khinh ghét Ngài trở lại kính mến Ngài; người chống ngài trở lại phục Ngài; kẻ ngoại đạo trở thành Phật tử. Bằng chứng là: Đề-Bà-Đạt-Đa cũng được Ngài thọ ký; anh chàng Vô-não cũng được qui y; bầy voi say cũng được sám hối; Vua A-Xà-Thế cũng hối cải và quay về đường ngay. 
Nói tóm lại, Đức Phật có đủ muôn ngàn phương tiện thích ứng với mọi người, mọi vật, mọi hoàn cảnh để hóa độ tất cả những ai mà Ngài gặp trên đường truyền đạo của Ngài. Không phải chỉ ở ngoài đời, mà trong giáo hội của Ngài, Ngài cũng tuỳ theo căn cơ, tâm lý của mỗi đệ tử mà áp dụng phương pháp thích hợp. Chẳng hạn như đối với ông Nan-Đà, mặc dù thân đã xuất gia, mà tâm vẫn muốn ngao du, luyến ái bạn bè, Ngài dùng thần thông để đưa ông lên cõi trời xem những cảnh sống tốt đẹp, vui thú khác thường, rồi đưa ông xuống địa ngục mục kích những hình phạt đau đớn, rùng rợn, hãi hùng để ông so sánh hai cảnh đời trái ngưọc nhau mà tự chọn lựa lấy một đường. 
Còn đối với ông A-Nan, người học rộng nghe nhiều, nhưng vì nghiệp duyên còn nặng, nên mắc nạn "Ma-đăng-già", thì Phật lại đem giáo lý thâm sâu là kinh Lăng Nghiêm ra giảng dạy để cho ông A-Nan thấy rõ được cái quí giá của chân tâm mà lo tu luyện, chứ không giong ruổi theo giả cảnh nữa. 
Xem như thế thì Đức Phật đã dùng phương tiện để tùy duyên hóa độ, như ông lương y giỏi tùy bịnh cho thuốc, chứ không nhất thiết phải theo một đường lối cố định nào cả. Đối với kẻ thân, người thù, đối với kẻ thông minh hay người ngu độn, đối với kẻ giàu, người nghèo, Ngài đều có đủ pháp môn cho họ khai ngộ và quy y theo Ngài. 
3 - Hóa độ theo tinh thần bình đẳng.  
Tinh thần bình đẳng là một điểm son quí giá nhất trong giáo lý của đức Phật, cũng như trong tâm hồn của Ngài.Ngay từ khi còn ấu thơ, tinh thần ấy đã được bộc lộ trong những cử chỉ cứu giúp những kẻ bần cùng, những con vật lâm nạn, như chúng ta đã thấy trong bài trước. 
Khi thành đạo, tinh thần bình đẳng ấy lại bộc lộ rõ ràng hơn nữa. Ngài đã có những câu nói bất hủ, khiến cho ngày nay, người ta vẫn đem ra làm khuôn vàng thước ngọc. Như khi Ngài xin nước của một người thuộc giai cấp hạ tiện nhất Ấn Độ, người nầy sợ làm lây ô-uế cho Ngài, thì Ngài phán bảo:"Không có giai cấp, trong giọt máu cùng đỏ, trong nước mắt cùng mặn. Mỗi người sinh ra đều có Phật tánh và có thể thành Phật". 
Trong giáo hội của Ngài, Ngài nhận cả những người thuộc giai cấp hạ tiện.Như ông Ưu-Ba-Ly, một đệ tử có tiếng tăm của Ngài về phương diện giới luật, là một người thuộc giai cấp hạ tiện Chiên-đà-la, làm nghề gánh phẩn. 
Sự thâu nhận ấy đã làm cho các vị vua chúa bất mãn. Chính vua Ba-tư-nặc đã bạch Phật: "Đấng Chí Tôn thâu nhận kẻ hèn hạ vào hàng Tăng đồ như vậy, không ngại rằng đá sỏi lẫn lộn với châu ngọc, làm mất giá trị của chúng Tăng sao?". 
Phật dạy rằng: 
"Người hèn hạ mà biết phát tâm bồ đề, xuất gia tu hành, chứng được quả thánh, thì quí báu vô cùng, chẳng khác gì hoa sen mọc ở bùn lầy nhơ bẩn mà vẫn tinh khiết thơm tho". 
"Một người sinh ra không phải liền thành Bà-la-môn (giai cấp trên hết) hay Chiên-đà-la (giai cấp thấp nhất) mà chính vì sở hành của người ấy, tạo thành Chiên-đà-la hay Bà-la-môn". 
Ngài xâu giùm kim cho người mù, hoan hỷ nhận hòn đất sét mà đứa bé đã nắn để dâng Ngài, thọ lãnh bữa cơm cuối cùng do người thợ đốt than nghèo nàn dâng cúng. 
Chính vì sự hóa độ bình đẳng như thế, mà kinh Đại Niết-bàn đã tán thán:  
"Đức Như Lai không chỉ thuyết pháp cho hạng người quyền quí như vua Bạc-đề-ca, mà cũng thuyết pháp cho hạng người bần cùng như ông Ưu-ba-ly; không riêng thọ lãnh sự cúng dường của những người giàu có như ông Tu-đạt-đa, mà cũng thọ lãnh sự cúng dường của các hạng nghèo khổ như ông Thuần-đà; không riêng cho phép xuất gia các hạng không có tánh tham như Ngài Ca-diếp, mà cũng cho phép xuất gia những người có nhiều tánh tham như ông Nan-đà; không những thuyết pháp cho hạng người an tịnh không dự việc đời, mà cũng thuyết pháp cho vua Tần-bà-sa-la trong lúc đang bận rộn việc nước; không những thuyết pháp cho hạng thanh niên trẻ tuổi, mà cũng thuyết pháp cho ông già 80 tuổi; không những thuyết pháp cho bà hoàng hậu Mạt-Lỵ, mà cũng thuyết pháp cho dâm nữ Liên-Hoa".  
II. NĂM THỜI KỲ NÓI KINH 
Tóm lại, trong một đời của Đức Phật, tùy theo trình độ của mọi người mà thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt, cộng là 49 năm. Những kinh pháp của Ngài nói ra, về sau các đệ tử kết tập chia ra làm năm thời: 
1.Thời thứ nhất nói Kinh Hoa Nghiêm  
Khi Phật mới thành Đạo, ở tại cội bồ đề, nói Kinh Hoa Nghiêm 21 ngày. Vạch rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của đạo Phật, chủ đích có hai điều:  
a) Dẫn dắt các bậc Bồ tát lên địa vị Đẳng giác và Diệu giác.  
b) Nêu bày giáo pháp rốt ráo của Như Lai, chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ mà thôi; ngoài ra hàng nhị thừa ngồi nghe như đui, như điếc, huống chi ngoại đạo, tà giáo làm sao hiểu nổi! Đức Phật trình bày giáo pháp siêu việt tuyệt vời ấy, là muốn cho đại chúng phải tu theo Đại thừa Phật giáo mới được hoàn toàn rốt ráo. 
2.Thời thứ hai Phật nói Kinh A Hàm 
Biết rằng: "Muốn đi xa phải do nơi gần, muốn lên cao phải từ nơi thấp", đức Thích-Ca y theo chư Phật mà nói pháp Tam thừa. Vì vậy thời thứ hai, Ngài nói Kinh A Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thật tế, chỉ rõ chân lý cho hàng Tiểu thừa dễ thừa nhận, mà lo bề tự tu và tự độ. 
3.Thời thứ ba Phật nói Kinh Phương Đẳng. 
Đạo Phật chẳng những dạy pháp giác ngộ phần mình mà Ngài còn chỉ bày phương pháp giác tha nữa, tức là khuyến khích từ cái giác ngộ tiêu cực nhỏ hẹp của Tiểu thừa (A-la-hán), để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của Đại thừa Phật giáo. Ấy là thời nói Kinh Phương Đẳng trọn 8 năm, dẫn Tiểu thừa qua Đại thừa. 
4.Thời thứ tư Phật nói Kinh Bát Nhã. 
Đến khi đức Phật xem căn cơ của chúng sinh có thể tiến lên một từng cao nữa là hấp thụ được hoàn toàn giáo pháp Đại thừa, nên Ngài chỉ bày đạo lý chân không của vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp. Ấy là thời kỳ nói Kinh Bát Nhã trọn 22 năm. 
5.Thời thứ năm Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết-Bàn. 
Sự hóa độ một đời của Đức Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ của chúng sinh đã thuần thục, có thể gánh vác Đại thừa Chánh pháp của Như Lai, nên Ngài bèn nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn: "Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến". Ngài phú chúc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. Ấy là thời nói Pháp Hoa và Niết-Bàn trọn 8 năm.Đến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sinh của đời Ngài đã viên mãn. 
Tóm lại 5 thời thuyết pháp, cổ nhơn có làm bài kệ như sau:  
Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhựt  
A Hàm thập nhị Phương Đẳng bát  
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm  
Pháp Hoa Niết-bàn cộng bát niên.  
DỊCH NGHĨA:  
Trước nói Hoa Nghiêm hăm mốt ngày  
A Hàm mười hai, Phương Đẳng tám  
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã  
Pháp Hoa Niết-bàn cộng tám năm.
 
III. SỰ HÓA ĐỘ VIÊN MÃN 
Từ khi thành đạo dưới gốc cây bồ đề cho đến ngày nhập diệt, trải qua một thời gian 49 năm, Đức Phật đã đi khắp xứ Ấn Độ rộng lớn bao la, hết nước này đến nước khác. Hễ chỗ nào có chân Ngài giẫm đến là ánh đạo vàng bừng tỏa huy hoàng. 
Mỗi ngày Ngài theo một thời dụng biểu, một chương trình nhất định, không bao giờ xao lãng, từ khi trẻ cho đến già, từ mùa mưa cho đến mùa nắng. Mỗi ngày khi trời chưa sáng, Ngài đã lìa khỏi giường đi tắm rửa, thay đổi y phục rồi vào phòng quán cơ cho đến lúc mặt trời xuất hiện. Sau đó Ngài thuyết pháp cho chúng tăng đến lúc trưa mới nghỉ để thụ trai. 
Buổi chiều, Ngài thuyết pháp cho tín đồ các vùng lân cận đến nghe; rồi lại giảng giải những nghi vấn của các chúng Tăng về những vấn đề mà Ngài đã thuyết pháp buổi sáng. 
Mỗi năm, Ngài đi chu du để thuyết pháp độ sinh trong 9 tháng nắng ráo; còn ba tháng về mùa hạ có mưa lớn (theo thời tiết Ấn Độ), thì Ngài lại ở luôn trong tịnh xá để an cư kiết hạ. 
Ròng rã trong 49 năm như thế, hạt giống từ bi được Ngài tinh tấn gieo rắc khắp các xứ ở Ấn Độ. Từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây, từ rừng rú đến đồng bằng, không nơi nào là Ngài không đặt chân đến, hay truyền đệ tử đến thay Ngài để hóa độ chúng sinh. Và ở đâu Ngài và các đệ tử cũng được nhân dân, từ vua đến dân, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, từ phái nam đến phái nữ, đổ xô ra đón tiếp Ngài, vui thú được tắm gội trong ánh sáng Trí huệ và nước Từ bi do Ngài tưới xuống. Ở đâu có ánh đạo vàng đến, thì tà giáo và ngoại giáo lui xa dần, tan biến như những làn mây, như những bóng tối, tan biến trước ánh bình minh đang lên. Giọng thuyết pháp của Ngài có cái oai lực như tiếng sư tử rống, làm cho cầm thú phải khiếp phục, như tiếng hải triều lên, lấn át tất cả bao nhiêu tiếng tỉ tê của côn trùng, chim chóc. 
Đạo bồ đề từ đây đã ăn sâu gốc rễ trên bán đảo Ấn Độ bao la, và trở thành tôn giáo chính của các nước lớn, nhỏ thời bấy giờ tại Ấn Độ. Đức Phật sau khi đã tự giác, đã giác tha và đến đây giác hạnh của Ngài đã viên mãn. 
IV. TRƯỚC KHI NHẬP NIẾT-BÀN 
1 - Phật báo tin sắp lìa đời. 
Khi giác hạnh đã viên mãn thì Phật đã 80 tuổi. Đến đây, sắc thân tứ đại của Ngài cũng theo luật vô thường mà biến đổi, yếu già. Năm ấy Ngài vào hạ ở rừng Sa-la trong xứ Câu-ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. 
Một hôm Ngài gọi ông A-Nan, người đệ tử luôn luôn ở bên cạnh Ngài đến và phán bảo:  
-"A-Nan! Đạo ta nay đã viên mãn. Như lời nguyện xưa, nay ta đã có đủ bốn hạng đệ tử: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nhiều đệ tử có thể thay ta chuyển xe pháp, và đạo ta cũng đã truyền bá khắp nơi. Bây giờ ta có thể rời các ngươi mà ra đi. Thân hình ta, theo luật vô thường, bây giờ như một cỗ xe đã mòn rã. Ta đã mượn nó để chở Pháp, nay xe đã vừa mòn mà Pháp cũng đã lan khắp nơi, vậy ta còn mến tiếc làm gì cái thân tiều tụy này nữa? A-Nan! Trong ba tháng nữa Ta sẽ nhập Niết-bàn". 
Tin đức Phật sắp vào Niết-bàn, lan ra như một tiếng sét. Các đệ tử của Ngài đi truyền giáo ở các nơi xa, lục tục trở về để cùng đấng Giác Ngộ chia ly lần cuối. 
Trong thời gian ba tháng cuối cùng của Ngài, đức Phật vẫn không nghỉ ngơi, mà vẫn tiếp tục đi truyền đạo. Một hôm Ngài đi thuyết pháp ngang qua một khu rừng, gặp một người làm nghề đốt than, ông Thuần-Đà, thỉnh Ngài về nhà để thọ trai. Ngài im lặng nhận lời cùng các đệ tử theo ông về. Đến nhà ông Thuần-Đà dọn ra cúng dường Ngài một bát cháo nấm, thường gọi là nấm heo rừng, vì giống nấm này rất được giống heo rừng ưa thích. 
Thụ trai xong, Phật cùng các đệ tử từ giã ông Thuần-Đà ra đi.Được một quãng đường, Ngài giao bình bát cho ông A-Nan và truyền treo võng lên, trong rừng cây Ta-la (Tàu dịch là cây song thọ, cây có hai nhánh lớn chia ra như cái nạng), để Ngài nằm nghỉ. Ngài nằm xuống võng đầu trở về hướng Bắc, mình nghiêng về phiá tay phải, mặt xây về phía mặt trời lặn, hai chân tréo vào nhau. 
Nghe tin Ngài sắp nhập Niết-bàn, dân chúng quanh vùng đến kính viếng rất đông, trong số ấy có một ông già ngoài 80 tuổi, tên Tu-bạt-đà-la đến xin xuất gia thọ giới Sa di với Ngài, Ngài hoan hỷ nhận lời. Đó là người đệ tử chót trong đời Ngài. 
2- Phật nói Kinh Di Giáo và những lời phú chúc 
Lúc bấy giờ các đệ tử của Ngài đều có mặt đông đủ, chỉ trừ ông Ca-Diếp vì đi thuyết pháp xa, chưa về kịp. Ngài hội tất cả đệ tử và tín đồ đến quanh Ngài và dặn dò một lần cuối. Ngài phú chúc như sau: 
a) Y, bát của Ngài sẽ truyền cho ông Ma-ha Ca-Diếp. 
b) Các đệ tử phải lấy giới luật làm thầy. 
c) Ở đầu các kinh phải nêu 4 chữ: "Như thị ngã văn". 
d) Xá lợi của Ngài sẽ chia làm ba phần: 
- Một phần cho thiên cung, 
- Một phần cho long cung, 
- Một phần chia cho 8 vị quốc vương ở Ấn Độ. 
Sau đây là lời vàng ngọc mà Ngài đã để lại trong giờ phút cuối cùng. 
-"Này! Các người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát! Đừng tìm sự giải thoát ở  một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các người!..".  
- "Này!Các người đừng vì dục vọng mà quên lời ta dặn.Mọi vật ở đời không có gì quí giá.Chỉ có chân lý cuả đạo ta là bất di, bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!". 
Sau khi đã dặn dò cặn kẽ xong, Ngài nhập định rồi vào Niết-bàn. Lúc bấy giờ nhằm ngày rằm tháng hai âm lịch (theo giáo sử Trung Hoa). 
Rừng cây sa la tuôn hoa xuống phủ lên thân Ngài, trời đất u ám, cây cỏ héo úa, chim chóc im bặt tiếng hót. Vạn vật như chìm lặng trong giây phút nặng nề của sự chia ly. 
Các đệ tử tẩn liệm xác Ngài vào trong kim quan và 7 ngày sau, đưa kim quan Ngài vào thành Câu-Thi để tại chùa Thiện Quang và làm lễ trà tỳ (lễ hỏa thiêu). 
Tám vị quốc vương lớn ở Ấn Độ kéo binh hùng tướng dũng đến toan tranh giành xá lợi. Nhưng ông Hương-Tích y theo di chúc của Phật, đứng ra điều đình, và nhờ thế việc phân chia xá lợi đều được ổn thỏa. 
C. KẾT LUẬN 
Đức Phật đã nhập Niết-bàn, nhưng gương sáng của đời Ngài vẫn còn chiếu sáng rực rỡ trước mắt chúng ta. Suốt một đời, trong 80 năm trời, không một lúc nào Ngài xao lãng mục đích tối thượng là hóa độ chúng sinh đang trầm luân trong bể khổ. Khi còn tại gia, Ngài là người ở trong một địa vị có diễm phúc nhất, cao nhất của người đời, thế mà Ngài vẫn không màng tưởng đến; khi vào trong đạo, Ngài là người ở trong địa vị cao chót vót của đạo, thế mà Ngài vẫn không chịu ở yên trong địa vị ấy, lại vất vả ruổi rong trên mọi nẻo đường bụi bặm, gai góc để đưa dắt chúng sinh lên con đường hạnh phúc an vui và giải thoát hoàn toàn. Lòng thương của đức Phật thật là vô lượng, ân đức của Phật thật vô biên.  
 

 

 

 ______________

Toát yếu theo bộ "Phật Học Phổ Thông", khóa 1 (NXB Đông Phương 2012). HT Thích Thiện Hoa

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn