Phẩm 14: Phật Đà

14/08/202018:27(Xem: 12209)
Phẩm 14: Phật Đà
buddha-512 


KINH PH
ÁP CÚ 

Việt dịch: HT Thích Minh Châu
Thi Hóa: HT Thích Minh Hiếu

 

Lưu ý:

Kinh bên dưới bản gốc Việt dịch: HT Thích Minh Châu (câu đầu),

Câu theo sau là phần Thi Hóa của HT Thích Minh Hiếu (chữ nghiêng)

 

Phẩm PHẬĐÀ 14



179/ Vị chiến thng không bại,

Vị bước đi trên đời,

Không dấu tích chiến thắng,

Phật gii rng mênh mông;

Ai dùng chân theo dõi.

Bậc không để dấu tích.?



179/ Phật là một đấng toàn năng

Chiến thng thế giới, vượt ngàn quân ma.

Bậc giác ngộ gọi Phật đà

Tự tu tự giác, chấp ta không còn,

Ai tìm theo du chân son

Để tìm tướng Phật sắc không lối mờ.



180/ Ai giải toả lưới tham,

Ái phược hết dt dẫn,

Phật gii rng mênh mông;

Ai dùng chân theo dõi.

Bậc không để dấu tích.?



180/ Phật không trụ tướng cõi mơ

Sợi dây ái buộc như tơ cũng lìa

Âm thanh sắc tướng phân chia

Phàm phu tham đắm đầm đìa lệ rơi

Sao mai đã giác ngộ rồi

Đường xưa mây trng, khung tri thong dong.



181/Người trí chuyên thiền định,

Thích an tnh vin ly,

Chư thiên đều ái kính,

Bậc Chánh giác, Chánh niệm.



181/ Thế gian thôi chuyện buồn lòng

Ngồi bên bờ suối, trần hồng lìa xa.

Chư thiên ái kính Phật đà

ng chiu nghe pháp bên toà kim cang.



182/ Khó thay được làm người,

Khó thay, được sống còn,

Khó thay, nghe diu pháp,

Khó thay, Phật ra đời.



182/ Khó thay, sanh thế gian,

Lục căn đầy đủ được mang thân người.

Sanh vào thuở Phật ra đời,

Được nghe chánh pháp, kim rơi biển mò.



183/ Không làm mọi điều ác,

Thành tu các hnh lành,

Giữ tâm ý trong sạch,

Chính li chư Phật dạy.



183/ Ba đời chư Phật dy cho

Chớ làm điều ác,siêng lo hnh lành

Gicho ý lặng,tâm thanh

Chính li chư Phật đành rành xưa nay.



184/ Chư Phật thường ging dạy:

Nhẫn, khổ hạnh ti thượng;

Niết bàn quả tối thượng;

Xuất gia không phá người;

Sa môn không hi người.



184/ Xuất gia đời sống mi ngày

Như ong ly mật, hoa cây chng tàn.

Tỳ kheo đi vào xóm làng

Khất hoá thc phẩm, sau ban pháp lành.

Thiền định trong cba canh

Nhẫn nhục,khắc kỷ, gii căn hộ trì.



185/ Không phỉ báng, phá hoại,

Hộ trì giới căn bản,

Ăn uống có tiết độ,

Sàng toạ chỗ nhàn tịnh,

Chuyên chú tăng thượng tâm,

Chính li chư Phật dạy.



185/ Chánh nim trong lúc đứng đi,

Ngồi nm an trú hành vi của mình.

Đạt trí tuệ diệt vô minh

Ăn uống tiết độ, dưỡng sinh thân hoà.

Đây li chư Phật sâu xa

u truyền tứ chúng gn xa tu hành.



186/ Dầu mưa bằng tin vàng,

c dục khó thoả mãn;

Dục đắng nhiều ngọt ít,

Biết vậy là bậc trí.



186/ Người ngu để dục phát sanh

Đắng nhiều ngọt ít, cũng dành phần hơn

Mưa tiền vàng vẫn muốn thêm

Bậc trí biết vậy kim tiền không lay.



187/ Đệ tử bậc Chánh giác,

Không tìm cầu dục lạc,

Dầu dục của chư thiên,

Chỉ ưa thích ái diệt.



187/ Tỳ kheo tinh tấn đêm ngày

Tìm phương diệt ái lặng say cõi thiền.

Cho dù dục lạc cảnh thiên

ng không ham mun nhân duyên luân hồi.



188/ Loài người sợ hoảng hốt,

Tìm nhiu chquy y,

Hoặc rừng rậm ,núi non.

Hoặc vườn cây, đền tháp.



188/ Người đời như giữa biển trôi

Thuyền không bến đậu, không nơi để về.

Sợ hãi thêm nỗi lầm mê

Lên núi tạo tháp,cận kề nương thân.



189/ Quy y ấy không ổn,

Không quy y ti thượng;

Quy y các chỗ ấy,

Không thoát mọi khổ đau.?



189/ Vườn cây hay chốn sơn lâm,

Quy y tà pháp loạn tâm rối đường.

Nẻo về chưa tỏ vấn vương

Khổ đau là chốn đoạn trường phi qua.



190/ Ai quy y đức Phật,

Chánh pháp và chư Tăng,

Ai dùng chánh tri kiến,

Thấy được bốn Thánh đế.



190/ Có Phật thì phải có ma

Có Pháp chơn chánh, bỏ tà học theo.

ng thân hoà hợp sm chiều

Ba ngôi báu ấy thường khêu đèn lòng.



191/ Thấy khổ đau, khổ tập,

Thy sự khổ vượt qua,

Thấy đường Thánh tám ngành,

Đưa đến khổ não tận.



191/ Trở về quán chiếu bên trong

Nguyên nhân gốc khổ, đèo bòng ái duyên.

Thấy Bát thánh đạo đường thiêng

Lối đi duy nhất, vượt triền khổ đau.



192/ Thật quy y an ổn,

Tht quy y ti thượng,

Có quy y như vậy,

Mới thoát mọi khổ đau.



192/ Một khi tỏ ngộ đạo mầu

Khổ đau đã tận không cầu nương ai.

Hành trì chánh pháp Như lai,

Tự mình nếm giọt sương mai đầu cành.



193/ Khó gặp bc Thánh nhân,

Không phải đâu cũng có,

Chỗ nào bậc trí sanh,

Gia đình tt an lạc.



193/ Ở đời khó gặp thánh nhân

Nếu không gieo tạo duyên lành phước cao

Bậc trí sanh ở chốn nào

Như đèn chiếu sáng biết bao người nhờ.



194/ Vui thay- Phật ra đời!

Vui thay- Pháp được giảng!

Vui thay- Tăng hoà hợp!

Hoà hợp tu, vui thay!



194/ Vui thay, đức Phật ra đời!

Chánh pháp được ging, người người nhuần ân.

Vui thay, hnh ngộ cao Tăng,

Tứ chúng tu học, cùng đăng bo toà.!



195/ Cúng dường bậc đáng cúng,

Chư Phật hoặc đệ tử,

Các bậc vượt hý luận,

Đoạn diệt mọi sầu bi..



195/ Cúng dường Phật Pháp Tăng già

Ba ngôi cao quý thoát ra khổ sầu.

Dứt hý luận vượt thương đau

An lành gia chốn xôn xao chợ đời.



196/ Cúng dường bc như vậy,

Tịch tnh, không sợ hãi,

Các công đức như vậy,

Không ai ước lượng được.



196/ Phước lành dâng cúng cao ngôi

Bậc Thánh gii thoát xa ri trần duyên

Sống tch tnh không não phiền

ng đức vô lượng vô biên khó lường.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/10/2010(Xem: 17430)
Thơ Trong Tuyển Tập Thơ Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn) (Trích trong Đường Về Minh Triết; 1989-2005; NXB Văn Nghệ, 2007) --- * Nghìn Câu Thơ Tài Hoa Việt Nam (Bản tái bản lần 4; NXB Hội nhà văn, 2013) Không Đề Chất chứa những cằn nhằn Hồn lô nhô sỏi đá!... Chút lặng thầm hỉ xả Sỏi đá dậy hồn thơ…
29/10/2010(Xem: 15905)
May I be free from enmity and danger, May I be free from mental suffering, May I be free from physical suffering
28/10/2010(Xem: 19038)
Một thương chú tiểu dễ thương Hai thương chú tiểu chọn đường đi tu Ba thương sớm tối công phu Bốn thương chú học và tu đàng hoàng Năm thương chú tiểu nhẹ nhàng Sáu thương chú tiểu đoan trang nụ cười
23/10/2010(Xem: 21100)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 25812)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
21/10/2010(Xem: 17926)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
20/10/2010(Xem: 14320)
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại Con chỉ dùm căn láng nhỏ bên sông Nơi Mẹ sống trong chuỗi ngày hiu quạnh Nặng oằn vai một nỗi nhớ thương chồng
20/10/2010(Xem: 17860)
Nhân-sinh thành Phật dễ đâu, Tu hành có khổ rồi sau mới thành, Ai hay vững dạ làm lành, Chứng-minh trong chốn minh-minh cũng tường.
13/10/2010(Xem: 11079)
Nguyệt lạc Ô Đề sương mãn thiên Giang phong, ngư hoả đối Sầu Miên Cô Tô thành ngoại Hàn-San Tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
12/10/2010(Xem: 14653)
Trách lung do tự tại Tán bộ nhược nhàn du Tiếu thoại độc ảnh hưởng Không tiêu vĩnh nhật sầu.