Phẩm 05: Ngu

14/08/202017:15(Xem: 12781)
Phẩm 05: Ngu
buddha-503 


KINH PH
ÁP CÚ 

Việt dịch: HT Thích Minh Châu
Thi Hóa: HT Thích Minh Hiếu

 

Lưu ý:

Kinh bên dưới bản gốc Việt dịch: HT Thích Minh Châu (câu đầu),

Câu theo sau là phần Thi Hóa của HT Thích Minh Hiếu (chữ nghiêng)

 

PHẨM NGU 5



60/ Đêm dài cho kẻ thức,

Đường dài cho kmt,

Luân hi dài, kngu,

Không biết chơn diu pháp.



60/ Thc đêm mi biết đêm dài

Đường xa mi biết sc trai cũng mòn ,

Ngu mê sáu nẻo xoay vòng

Sống thiếu trí tu, như trong ngục tù.



61/ Tìm không được bn đường,

Hơn mình hay bằng mình,

Thà quyết sống một mình,

Không bè bn kngu.



61/ Thiện hu tri thc cùng tu

Nếu không tìm được, vân du mt mình.

Ngày đêm tụng đọc tâm kinh

Kngu xa lánh, tâm linh ttường.



62/ Con tôi, tài sn tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tta, ta không có,

Con đâu tài sn đâu?



62/ Vì người tăm ti vn vương

Đắm say con vợ, vô thường trắng tay,

Su bi thân thể hao gy

Thân này không thật, ca này về đâu?



63/ Người ngu nghĩ mình ngu,

Nhvậy thành có trí,

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu.



63/ Nếu như dừng lại mong cầu

Hiểu thông thế sbước vào đường chơn.

Còn nghĩ tài trí thua hơn

Tự ôm oán hn, nut hờn thiên thu.



64/ Người ngu, du trn đời,

Thân cn người có trí,

Không biết được Chánh pháp,

Như mung vi vcanh.



64/ Tri xanh che áng mây mù

Khiến cho cnh sc âm u héo sầu,

Trn đời không thấy đạo màu

Hương v chánh pháp, muỗng nào tỏ phân.



65/ Người trí, du mt khc,

Thân cn người có trí,

Biết ngay chân diu pháp ,

Như lưỡi vi vcanh.



65/ Không bằng gần bậc chân nhân

Mt giây tỉnh thức, pháp phần truyn trao.

Như lưỡi nếm vngt ngào

Thân tâm hlc tuôn trào lý chơn.



66/Người ngu si thiếu trí,

Tngã thành kẻ thù,

Làm các nghiệp không thiện,

Phi chu quả đắng cay.



66/ Phàm phu mãi tính thua hơn

Tmình la di, tinh khôn làm liu,

Trói trăn vì lưới thương yêu

Khổ đau tngã, trn kiu phi qua.



67/ Nghip làm không chánh thiện,

Làm ri sanh ăn năn,

Mt nhum l, khóc than,

Lãnh chịu qudị thục.



67/ Qubáo tìm đến không xa

Ăn năn đã mun, khóc la não nề,

Cuc đời bt hnh lê thê

Đường xa gian khổ mi mê mt mình.



68/ Người ngu nghĩ là ngt,

Khi ác chưa chín mui;

Ác nghiệp chín mui ri,

Người ngu chu khổ đau.



68/ Gây nhân khi bước đăng trình

Hân hoan hạnh phúc, nghình bóng theo,

Đến khi quả ác chín mui;

Ti tăm p đến, bóng chiều đã qua.



69/ Và vic làm chánh thiện,

Làm ri không ăn năn,

Hoan h, ý đẹp lòng,

Hưởng thọ qudị thục.



69/ Làm việc thiện, tâm thăng hoa

Phước lành vượt khỏi phong ba thế trn.

Vui thay quả thiện chín dn

Sc tài trn vn mười phân vn toàn.



70/ Tháng ngày vi ngn cỏ,

Người ngu có ăn uống,

Không bằng phần mười sáu,

Người hiu pháp hữu vi.



70/ Người ngu che giu tâm gian

Di người để được trăm ngàn li khen,

Bùn sình nhưng mọc hoa sen

Đến khi tng, bao phen mê lm.



71/ Nghip ác đã được làm,

Như sa, không đông ngay,

Cháy ngầm theo kẻ ngu,

Như la tro che đậy.



71/ Quá khsng vi ác tâm

Ging như la hc, che ngm dưới tro.

Li như sa chưa thành h

Khi nghip quả đến, cháy khô cuc đời.



72/ Tnó chu bt hnh,

Khi danh đến kngu,

Vận may bị tn hi,

Đầu nó bnát tan.



72/ Mun ưa danh li cao vi

Mà mình không xứng cuộc chơi cũng tàn,

Hại cho thân thể tan hoang

Tlàm tchu, trách than ai nào.

73/ Ưa danh không tương xứng,

Mun ngi trước Tkheo,

Ưa quyn ti tnh xá,

Mun mi người lkính.



73/ Tnh xá li mun ngôi cao

Để cho tchúng lễ cu cúng dâng.

Sống phàm tục giữa tăng thân

Đứng đi sai phm, chia phân ri bi.



74/ Mong cả hai tăng, tục,

Nghĩ rằng (chính ta làm),

Trong mọi vic ln nh,

Phải theo mệnh lnh ta”,

Người ngu nghĩ như vy,

Dc và mn tăng trưởng.



74/ Lại mong ảnh hưởng khp nơi

Tcao ngã mn chưa ri khi tâm,

Gây ra mọi thứ li lm

Bi lông tìm vết, không cần li khuyên.

Tăng, tục đều gp não phin

Cn tu sám hi mi yên lòng người.



75/ Khác thay duyên thế li,

Khác thay đường Niết bàn,

Tkheo đệ tử Pht,

Hãy như vậy hằng tri,

Chứ ưa thích cung kính,

Hãy tu hnh vin ly.



75/ Như thuyền đã vượt trùng khơi

Bc trí thẳng tiến nghỉ ngơi Niết bàn.

Xa lìa vt chất ly tham

Quán chiếu vạn pháp như làn gió thu,

Đi thật xa chn tuyt mù

Thâm sơn cùng cốc, n cư an lành.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2016(Xem: 23807)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 11927)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10734)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11834)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11286)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12854)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10356)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14328)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17183)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12497)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây