116. Kinh Thôn Tiên

19/05/202011:29(Xem: 17331)
116. Kinh Thôn Tiên

TAM TẠNG THÁNH KINH PHẬT GIÁO

TẠNG KINH (NIKÀYA)
Thi Hóa
TRUNG BỘ KINH

( Majhima  Nikàya )


Tập IV
Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU
Dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli

Chuyển thể Thơ :

Giới Lạc  MAI LẠC HỒNG  tự TUỆ NGHIÊM

 ( Huynh Trưởng Cấp Tấn  - GĐPTVN tại Hoa Kỳ )

Email : [email protected]


116. Kinh THÔN TIÊN

( Isigili sutta )

 

Như vậy, tôi nghe :

 

          Một thời, đức Thế Tôn Giác Giả

          Trú Ra-Cha-Ga-Há nơi ni  

              Trên núi I-Sí-Ghi-Li       ( Isigili )

      ‘Thôn Tiên’ tên ấy đồng thì gọi đây.

 

          Tại nơi này, Thế Tôn cho gọi

          Chư Tăng đến và nói như vầy :

 

        – “ Các Tỷ Kheo ! Các ông đây

       Có thấy núi Phụ Trọng này hay không ? ”.

         (Vê-Pha-Ra cũng đồng núi ấy)

 

    – “ Thưa có thấy, bạch đức Phật Đà ! ”.

 

        – “ Các Tỷ Kheo ! Đây chỉ là

       Một tên khác của Vê-Pha-Ra này.

          Xa xa đây núi Panh-Đa-Vá

         (Núi Bạch Thiện) kia đã thấy không ? ”.

 

       – “ Thưa có thấy, bạch Thế Tôn ! ”.

 

 – “ Đây chỉ là tên khác thông qua vầy.

       Các ông đây có thấy núi đá

          Vê-Pun-Lá (Quảng Phổ) kia không ? ”. 

 

       – “ Thưa có thấy, bạch Thế Tôn ! ”. 

    __________________________

 

( ) : Thành Vương Xá – Rajagaha, do vua Bimbisara (Tấn-Bà-Sa-

      La) trị vì. Nơi đây Vua đã dâng Đức Phật ngự uyển để thành

     lập Trúc Lâm Tinh Xá (Veluvanavihàra).

(2) : Núi Isigili – Thôn Tiên.           (3) : Các núi khác : Vebhara

    (Phụ Trọng), Pandava (Bạch Thiện), Vepulla (Quảng Phổ).

 – “ Đây chỉ là danh khác đồng kể ra.

          Có thấy núi Ghít-Cha-Ku-Tá  (1)

         (Núi Linh Thứu) sơn dã kia không ? ”.

 

       – “ Thưa có thấy, bạch Thế Tôn !  

 

 – “ Đây chỉ là danh khác đồng tường tri.

          Có thấy núi I-Si-Ghi-Lí ? ”.

         (Tên Thôn Tiên cũng chỉ núi này)

 

       – “ Có thấy, bạch đức Như Lai ! ”. 

 

 – “ Đây chỉ là danh khác nay gọi vầy.

          Chúng Tăng này ! Thuở xưa có các

          Năm trăm vị Độc Giác Phật Đà.  (2)

              Sống trong thời gian lâu xa

       Tại I-Si-Ghí-Lí (là Thôn Tiên)

          Lúc đầu tiên dân chúng đều thấy

          Các vị ấy đi vào núi đây,

              Nhưng thời gian thật lâu dài

       Họ không thấy các vị này trở ra

          Dân chúng liền bảo là : ‘Núi ấy

          Đã nuốt lấy Ẩn-sĩ các vì’.

    _____________________________

 

(1): Gijjhakuta – Linh Sơn hay Linh-Thứu hay núi Kỳ-Xà-Quật.

 

(2) : Có ba bậc Giác ngộ :

  - Toàn Giác Phật – Sammàsambuddha ( Tam-miệu-tam-bồ-đề) là

      bậc chứng đạt Thánh quả Toàn tri Diệu giác và truyền bá giáo

      pháp một cách sâu rộng.

 - Độc Giác Phật – Paccekabuddha  ( hay còn gọi là Duyên Giác )

     là bậc chứng đạt Phật quả, nhưngchỉ chứng ngộ tự mình,  không

     thể giảng pháp cho ai cả.

 - Thanh (Thinh) Văn Giác – Sàvakabuddha, là bậc đã tu hạnh

    Ba-la-mật trong vô lượng kiếp, nhưng với nguyện lực được làm

    bậc Thinh Văn, nghĩa là nghe pháp từ một vị Toàn Giác mà

    chứng ngộ chân lý. 

              Nên gọi ‘I-Si-Ghi-Li’

       Nghĩa là ‘nuốt mất những vì Tiên nhân’.

          Ta sẽ kể về phần danh tánh

          Các vị Thánh Độc Giác Phật này,

              Lắng nghe, suy nghiệm kỹ ngay ”.

 – “ Chúng con nghe kỹ lời Ngài thuyết ra ”. 

 

          Đức Phật Đà nêu danh Giác Giả :

    – “ A-Rít-Thá, U-Pá-Rít-Tha, (1)

              Ta-Ga-Rá-Si-Khi, (1)

       Da-Sát-Si, Su-Đát-Sa-Na (1) lành,

          Pi-Da-Đát-Si, Ganh-Tha-Rá,  (1)

          Pin-Đô-Lá, Ú-Pá-Sá-Pha, (1)

              Ni-Tha cùng Sú-Tá-Va, (1)

       Ta-Tha, Pha-Ví-Tát-Tà, Su-Pha, (1)

          Các vị là Duyên Giác Phật cả,

          Trú lâu trong sơn dã Thôn Tiên.

 

     “ Hữu tình tinh hoa, đại duyên

       Chư vị không khổ, não phiền, ái tham

       Riêng mình chứng đắc lạc an 

       Vô thượng Chánh Giác (khó san sẻ phần

       Sự chứng ngộ cho Thiên, Nhân)

       Chư vị là thượng-thắng-nhân vững bền,

       Vượt ngoài tầm bắn mũi tên

       Lóng nghe, Ta sẽ xướng liền tên ra

       Ngoài những vị vừa kể ra

       Còn có : Mê-Thu-Là, Sum-Pha  (2)            

    ___________________________

 

(1) : Tên các vị Phật Độc Giác (Duyên Giác) :

    Arittha, Uparittha, Tagarasikhi, Yasassi, Sudassana, Piyadassi,

   Gandhara, Pindola, Upasabha, Nitha, Sutava, Tatha, Bhavitatta,

   Subha.   (2) : Methula, Sumbha.

        Cùng A-Thát-Su-Mê-Ga    (*)…

        Át-Tha-Má, A-Ni-Gà, Hinga,

        Hin-Gu và Su-Đát-Tha

        Chư vị Độc Giác Phật Đà tịnh thanh,

        Đã đoạn trừ nguồn tái sanh

        Bậc Đại uy lực, tâm lành vị tha,

        Rồi các vị : Át-Tha-Ka,

        Cha-Li ẩn-sĩ, Kô-Sa-La vì

         Su-Ba-Hu cùng Nê-Mi,

        Ka-Lá, U-Pá-Nê-Mi, Chi-Tà,

        Pát-Si, Sanh-Tá-Chít-Ta,

        Ân-Ga, U-Pá-Ka-Là, Pan-Ga,

        Các ngài chân thật tinh hoa

        Bậc hiền triết, ly trần và như-chân

        Đoạn trừ chấp thủ mọi phần

        Căn rễ đau khổ cõi trần lâu xa.

        Các vị : Gu-Ti-Chi-Ta,

        A-Pa-Rá-Chi-Ta và Sát-Tha,

        Pa-Vát-Ta, A-Si-Ta,

        Sa-Ra-Phan-Gá, Lô-Mà-Han-Sa,

        Ngài Úc-Chân-Gá-Ma-Da,

        Ma-Nô-Ma-Dá, A-Na-Sa-Và,

        Các ngài đánh bại quân ma

        Đoạn trừ chướng ngại, an hòa hoan ca.

        Ban-Thu-Má, Kê-Tu-Ma,

    ________________________________

 

(*) : Chư vị Độc Giác Phật tiếp theo : Atthassumegha, Atthama,

   Angha, Hinga, Hingu, Sudattha, Atthaka, Jali, Kosala, Subahu,

   Nemi, Kala, Upanemi, Jita, Passi, Santacitta, Anga, Upakala,

   Panga, Gutijjita, Aparajita, Sattha, Pavatta, Asita, Sarabhanga,

   Lomahansa, Uccangamaya, Manomaya, Anasava, Bandhuma,

   Ketuma…           

 

 

        Ngài Ta-Đa-Thí, Mút-Tà (*) Bích-chi,

        Bậc vô cấu uế uy nghi

        Su-Măng-Ga-Lá, A-Ri-Da, và

        Ngài Kê-Tung-Bá-Rá-Ga,  (*) …

        Ma-Tan-Gá, Ấc-Chu-Tà, Săng-Ga,

        Đáp-Bi-La, Á-Sây-Ha,

        Ngài Su-Pa-Tít-Thí-Ta, cùng là

        Ngài Khê-Ma-Phí-Ra-Ta,

        Đu-Ran-Na-Dá, Sô-Ra-Ta, và

        Ngài Ấc-Chu-Tá-Ga-Ma,

        Phi thường can đảm tinh hoa hải hà

        A-Nan-Đa và Nan-Đa,

        Ma-Ha-Na-Má, U-Pa-Nan-Đà,

        Bô-Thi, Pha-Rát-Va-Cha,

        Thượng thắng, chóp tóc, đẹp và hào hoa

        Tít-Sa, U-Pá-Tít-Sa,

        U-Pa-Si-Đá-Ri là Bích-chi

        Dứt hữu-kiết-sử tức thì,

        Đoạn trừ tham ái, ngài Mân-Ga-Là

        Cùng các Bích-chi Phật Đà

        Chê-Tà, U-Pá-Ni-Ta các vì

        Độc Giác Phật Si-Đa-Ri

        Đoạn trừ tham, gốc khổ thì cắt qua.

        Sun-Đa-Rá, Cha-Danh-Ta 

        U-Pô-Sa-Thá, Sách-Cha-Na-Mà

    ______________________________

 

( ) : Chư vị Duyên Giác Phật (tiếp theo) :

         Tadathi, Mutta, Sumangala, Ariya, Ketumbaraga, Matanga,

     Accuta, Sangha, Dabbila, Asayha, Supatitthita, Khemabhirata,

     Durannaya, Sorata, Accutagama, Ananda, Nanda, Mahànàma,

     Upananda, Bodhi, Bharadvaja, Tissa, Upatissa, Upasidari,

     Jeta, Upanita, Sundara, Jayanta, Uposatha, Saccanàma.

 

        Pa-Đu-Ma, Úp-Pa-La   (*) …

        Pa-Đu-Mút-Tá-Ra và Kanha

        Rách-Khi-Ta, Páp-Ba-Ta

        Ma-Nát-Thát-Thá, Vi-Ta-Ra-Gà

        Bích-chi Phật Sô-Phi-Ta

        Với tâm giải thoát, từ hòa tịnh thanh

        Cùng các vị chưa nêu danh

        Năm trăm Độc Giác an lành Bích-chi

        Những bậc Đại lực Đại uy

        Dứt luân hồi, đoạn tức thì tử sanh.

        Hãy đảnh lễ thật chí thành

        Chư Đại-ẩn-sĩ tịnh thanh vô lường

        Thắng mọi chiến trận các phương

        Niết Bàn tấn nhập, nêu gương xuất trần.

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  ( 3 L )

 

*   *

 

( Chấm dứt Kinh số 116 :  THÔN TIÊN  –

ISIGILI  Sutta )

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 13564)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 15280)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 13831)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13627)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25203)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52346)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16516)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 11897)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19706)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 14164)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,