Thiền Thi Vân Tập Cú Tập

19/07/201913:07(Xem: 11795)
Thiền Thi Vân Tập Cú Tập
 
tho thien_HT Thich Huyen Ton 

THIỀN THI VÂN TẬP CÚ TẬP
1
.禪詩雲集句
        Tuyển dịch, văn thể…HT.Thích Huyền Tôn.
Lão Tăng sưu tập Thiền-thi, cống hiến các bạn uống trà, ngâm nga, nghiệm thâm ý, trực ngộ diệu lý
          Bất sanh, bất diệt. Bổng nhiên bay vút không trung, cười vui ha hả, nhìn thấy cõi trần không không
          Vô tận…Tam-khổ, Bát-khổ biến thành Tịnh-độ. Tu, Tu nhiều, vui thú nhiều bạn nhỉ !       ____________________________________________________________________

 

1. Thiền-Lão thiền sư, đời Nhà Lý. Việt Nam.

Vào Năm Ất hợi (TL.1035) VL3914. Vua Lý-Thái-Tông đến thăm và hỏi:

-Hòa Thượng ở núi nầy được bao lâu ?

 

Hòa Thượng đáp: Đản Tri Kim Nhật Nguyệt, 但知今日月

Thùy Thức Cựu Xuât Thu.  誰識舊春秋

 

Dịch: (?) Ngày nay chỉ biết ngày nay,

Còn xuân thu trước ai hay làm gì.

 

Có thể tạm dịch: Ngày tháng hôm nay biết rõ ràng,

                           Xuân Thu năm cũ mơ màng ai hay.(biết chi)

 

Nhà Vua hỏi tiếp: -Hằng ngày Hòa Thượng làm việc gì ?

Hòa Thượng Lại đáp:

Túy Trúc Hoàng Hoa Phi Ngoại Cảnh,翠竹黃花非外景,

Bạch Vân Minh Nguyệt Lộ Toàn Chân.白雲明月露全真.

 

HT.Huyền Tôn, dịch:Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh,

      Trăng trong mây trắng cõi toàn chân.

 

Vua Lý, hiểu được lẽ đạo thâm huyền, về triều gởi chiếu thỉnh Sư làm cố

Vấn, nhưng Thiền-sư đã Viên-tịch.

   Sư Viên-tịch năm Mậu-dần, VL.3917 (TL.1038).

Lời Chú: Cái đạo lý của quá-khứ vi-lai, của hoa-vàng trăng-sáng không cần quan

Tâm, cảnh không trước cảnh, lý tính mặc tình nó tỏ lộ hay tan biến .

 

 

2.Vua Trần Nhân Tông. Việt Nam.

Cư Trần Lạc Đạo Thả Tùy Duyên,居塵樂道且隨緣,

Cơ Tắc Xang Hề Khổn Tắc Miên.饑則餐兮悃則眠.

 Gia Trung Hữu Bảo Hưu Tầm Mích,家中有寶休尋覓,

     Đối Cảnh Vô Tâm Mạc Vấn Thiền.對境無心莫問禪.

 

Huyền Tôn, dịch:

Cõi trần vui đạo hãy tùy duyên,

Đói ăn khát uống mệt ngủ liền.

Bảo vật dư rồi tìm chi nửa,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

 

Đối cảnh vô tâm: sáu căn đối với sáu trần  không nhiễm trước,

tức Tâm, Cảnh thanh tịnh Ngay đó Ngộ-đạo.

 

3.Đời Nhà Lý Vua Thái Tôn (Phật Mã) Năm Mậu-thìn, VL.3907. (TL.1028).

Làm bài Thi-kệ truy tán Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi như sau:

 

Sáng Tự Nam Lai Quốc,創自南來國

Văn Quân Cữu Tập Thiền.聞君久習禪

Ứng Khai Chư Phật Tín,應開諸佛信

Viễn Hợp Nhứt Tâm Nguyên.遠合壹心源

Hạo Hạo Lăng Già Nguyệt,浩浩伽月

Phân Phân Bát Nhã Liên.芬芬般若蓮

Hà Thời Hạnh Tương Kiến,何時幸相見

Tương Dữ Thoại Trùng Huyền.相與話重玄

 

HT, Mật Thể, dich:

 

Mở lối qua Nam Việt,

Nghe ông chỉn học thuyền. (Thiền).

Nguồn tâm thông một mạch,

Cõi Phật rộng quanh miền.

Lăng-già ngời bóng nguyệt,

Bát Nhã nức mùi sen.

 

Biết được bao giờ gặp,

Cùng nhau kể đạo huyền.

 

HT. Huyền Tôn, dịch:

Ngài qua nước Nam Việt,

Đã lâu tu học Thiền.

Mở bày lòng tin Phật,

Thấy suốt rõ tâm nguyên.(1)

Rực rỡ Lăng già nguyệt, (2)

Thơm ngát Bát nhã liên.

Bao giờ được tương kiến,

Cùng luận đạo thâm huyền.

 

(1)            Nguồn tâm, cũng là Chơn Tâm).

(2)            Xưa ở nước sư-tử. nay là đảo tích lan. Lăng già là Bảo-thạch (đá qui)

Núi Lăng-già. Nơi Phật nói Kinh Lăng Già, và có “huyền ký”đời sau

có vị Đại-đức tên Long-thọChứng Hoan-hỷ-địa nói “Đại-thừa diệu

-pháp” tại nước An-lạc.( Ấn-độ).

 

4. Bậc Nhàn Đạo Nhân, Huyền Giác nói :

 

Tùng Tha Bán, Nhậm Tha Phi,從他謗任他非,

     Bả Hỏa Thiêu Thiên Đồ Tự Bì.把火燒天陡自疲.

     Ngã Văn Kháp Tợ Ẩm Cam Lộ,我聞恰似飲甘露,

     Tiêu Dung Đốn Nhập Bất Tư Nghì.消慵囤入不思儀.

Trúc Thiên, Dịch:

          Mặc ai biếm, mặc ai gièm,

Châm lửa đốt trời nhọc xác thêm.

          Ta nghe như uống cam lồ vậy,

Tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn.

 

Huyền Tôn dịch:

     Mặc ai bán bổ, mặc ai chê, 

 

Đem lửa đốt trời tánh tự mê.

Nghe chê như uống bầu Cam Lộ,

Nhẹ nhàng lan tỏa khó nghĩ bàn. (khó lời phê).

 

 Người tu có năng lực nhẫn nhục lớn, vừa nghe lời “phê phán chê bai”

     Liền ngay đó “Tu lập tức” coi như họ đang hì hục “Lấy lửa đốt trời”

     Nhưng ta thì đang uống cam lồ! và quí trọng họ! Vì họ đang giúp cho

ta “TU” Và tự thấy sung sướng vì ta có TU thật sự.Nở nụ cười An-lạc.

 

5. Bậc Nhàn Đạo Thiền Sư Huyền Giác lại dạy :

 

Quán Ác Ngôn Thị Công Đức,觀惡言是功德,

 Tức Thị Thành Ngô Thiện Tri Thức.即是成吾善知識.

  Bất Nhân Sán Báng Khởi Oan Thân,不因訕謗起冤親,

  Hà Biểu Vô Sanh Từ Nhẫn Lực.何表無生慈忍力.

 

Huyền Tôn, Dịch:

Nghe lời hung ác, thêmcông đức,

Ta cảm ơn người thiện tri thức.

Nếu vì oán trách khởi oan thân,

Sao được vô sanh từ nhẫn lực.

Trúc Thiên, Dịch:

                  Xét lời ác,ấy công đức,

Đó mới chính là thầy ta thực.

                 Chớ vì báng bổ nổi oan thân,

Sao tỏ vô sanh, nêu nhẫn lực.

Tu hành, gặp người ác mắng chưởi, ngay lúc đó ta tụng bài kệ này. Ta Tu

          Ngay lúc đó! Ta chuyển lời khó nghe thành lời “Công Đức” Ta coi họ là

 

người bạn tốt, vì nhờ những lời mắng chưởi đó ta thấy ta là người có “TU”

và đang Tu. Ta khởi tâm “Vui Sướng” vì ta đang có Đạo Lực Nhẫn Nhục.

  liền cảm ơn họ. Ta mĩm cười, nếu không có những lời Ác độc đó thì suốt

  đời ta lấy đâu để biết ta có thật tâm tu hành. Tu đi bạn nhé!

 

6. Khuôn Việt Thái Sư.  Thời vua Đinh-Tiên-Hoàng (Đinh Bộ Lãnh)

Ngài Họ Ngô Pháp Hiệu Chân-Lưu. Năm (TL.971) Tân-mùi VNQL.3850.

    Ngài 40 tuổi, được Thụ phong Chức Khuôn Việt Quốc Sư ( hay Thái Sư)

Lo khuôn phò đất nước Việt. Vua vì quá mến phục tài năng và đạo dức của

    Ngài nên đã phong Tăng Thống về Phật Giáo. Khuôn Việt Quốc Sư quản

    LãnhTriềuĐình đối ngoại cho nhà Vua.Hơn 11 năm sau Vua Lê Đại Hành

cũng kính trọng Ngài trong chức vụ TháiSư và nhờ Quốc Sư viết thư cho vua

Tàu và tiếp sứ thần Lý Giác.

Nhờ đó sứ Tàu thành tâm kính trọng Vua Nam.

 

Sứ viết Bài thơ như sau:

        Hạnh ngộ minh thời tán thạnh du,幸遇明時贊盛猷(mưu kế)

        Nhứt thân lưỡng độ sứ giao châu.壹身兩度使交州

             Đông đô tái biệt tâm vưu luyến,東都再別心尤戀

             Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu.南越千重望未休

             Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch.馬踏煙雲川浪石

   Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu.車辭青幛泛長流

             Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,天外有天應遠照

        Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.溪潭波淨見蟾秋.

       

HT.Mật Thể, Dịch:

             May gặp Minh-quân giúp việc làm.

       

Một mình hai lược sứ miền Nam.

             Mấy phen qua lại lòng thêm nhớ,

             Muôn dặm non sông mắt chữa nhàm.

             Ngựa đạp mây bay qua suối đá,

    Xe vòng núi chạy tới giòng lam.

           Ngoài trời lại có trời soi rạng,

             Vừng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.

       

HT.Huyền Tôn, Dịch:

             Gặp buổi minh thời mưu tính xong,(Du. Là mưu kế)

             Một thân hai lược sứ Giao Châu.

             Đông Đô qua lại lòng lưu luyến,

             Nam Việt ngàn trùng lắm nhớ mong.

          Ngựa sãi gió mây xuyên suối đá,

         Xe lăn nghiêng ngữa suốt dòng lưu.

             Ngoài trời còn có trời soi sáng.(Vua Tàu và Vua Việt)

             Biển lặng đầm trong thấy vẻ Thu.

       

Vua Đại Hành nhờ Quốc Sư Khuôn Việt, viết thư trả lời cho Sứ thần Lý Giác.

        Thư viết theo điệu “Tống vương lan qui” như sau:

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương祥光風好錦帆張

        Thần Tiên Phục đế hương.神仙復帝

        Thiên lý vạn lý thiệp thiên lảng,千里萬里涉滄浪

        Cửu thiên qui lộ trường.九天歸路長

        Nhân tình thảm thiết đối ly tràng,人情慘切對離腸

        Phan luyến sứ tinh lang.攀戀使星郎

        Nguyện tương thâm ý vị Nam cương,願將深意為南強

       

Phân minh tấu ngã hoàng.分明奏

        Lẽ ra, Phân Minh Tấu “ Thượng “Hoàng, mới đúng. Ngã Hoàng”là Vua của Mình” Vì Sứ thần

          Về lại Tàu, Tâu tốt với vua Tàu về việc của “Nam cương”.!

       

HT.Mật Thể, Dịch:

         Gió hòa phất phớt chiếc buồm hoa,      

 Thần tiên trở lại nhà.(Tôn trọng cao quí)

         Đường muôn nghìn dặm trải phong ba,

Cửa trời nhắm đường xa.

         Một chén quan-hà dạ thiết-tha,   

 Thương nhớ biết bao là.

         Nỗi niềm xin nhớ cõi Nam hà,

         Bày tỏ với vua ta.       

 

HT.Huyền Tôn, Dịch:

        Gió lộng buồm hoa thuyền lướt mau,    

Sứ thần trở lại “Tàu”. (1)

        Biển rộng ngàn xa cảm xót đau,   

Trời xanh,xanh một màu.

        Ân nghĩa người Nam thấm ngọt ngào,

         Lưu luyến lòng xốn xao.

        Tình thâm chan chứa biết là bao, 

Tâu rõ với Vua Nhà. (Thượng Hoàng).

(1): Tôn kính không quá cao.

         

7. CÓ , KHÔNG ?Thi cảm: HT.Huyền Tôn.

        Chớ vương vào có, mơ có có,

        Học đạo không không, phải thật không.

        Có có mà chi, đeo với có,

       

Đã không, thì chớ cột vào không.

        Luân-hồi sanh-tử, ôi có có!

        Bỏ hết trần lao lặng lẻ không.

        Có không, có có, không không có,

        Bạn đã thấy gì, lẽ có không?

        Cái có Chơn-thường là có có.

        Cái không, không thiệt lại không không.

        Tất cả đều không, không thật có,

        Hiểu rồi thật có với thật không.

Không như sừng thỏ, là không có!

        Có tợ chiêm bao, ấy có không?    

Chẳng chấp vào không, chấp vào có,

        Thong dong tự tai, kể gì Có Không.

       

        8. HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ.

        Nhạn Quá Trường Không,鴈過長空

        Ảnh Trầm Hàn Thủy.影沈寒水   

Nhạn Vô Lưu Tích Chi ý,鴈無留跡之意

        Thủy Vô Lưu Ảnh Chi Tâm.水無留影之心

       

HT. Nhất Hạnh, Dịch:

        ‘Nhạn bay ngang trời,

 Bóng chìm đầm lạnh.

        Nhạn không có ý để lại dấu tích,

        Nước không có ý lưu giữ bóng hình.’

       

HT.Huyền Tôn, Dịch:

        Nhạn bay trên không,

 

Bóng chìm trong nước.

        Nhạn không có ý lưu hình,

        Nước đâulại giữ bóng hình Nhạn bay.

 

        Thiền ý : Đọc lời Thơ, Thấy cả có lẫn không. Có, có tất cả. Không, không tất cả! “Tánh

        Không” nhiệm mầu của “Thiền Thi” làm cho người đọc hiểu được Vật thể hiện ở nơi đâu,

        Thì Tâm ảnh hiện ở nơi dó. Ly hai cảnh Tiền-trần tức nhận được Chơn-không.

 

        9. Vạn Hạnh Thiền Sư.

        Thân Như Điện Ảnh Hữu Hoàn Vô,身如電影有還無,

           Vạn Mộc Xuân Vinh Thu Hựu Khô.萬木春榮秋又枯.

           Nhậm Vận Thạnh Suy Vô Bố Úy,任運盛衰無佈畏,

 Thạnh Suy Như Lộ Thảo Đầu Phô.盛衰如露草頭鋪.

       

HT. Mật Thể, Dịch:

        Thân như bóng chớp chiều tà,

        Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.

           Sá chi suy thạnh ở đời,

           Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

       

HT.Thanh Từ, Dịch:

           Thân như bóng chớp có rồi không,

           Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng.     

          Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

          Thạnh suy như cỏ hạt sương đông.

 

HT. Huyền Tôn, Dịch:

        Thân như bóng chớp córồi không,

       

Cây cối xuân xanh, thu đổi hồng.

        Mặc cuộc thạnh suy đừng lo sợ,

           Thạnh suy như giọt,đọng sương đông.

 

10. Chuyết Công Thiền Sư. Đời thứ 27, Tông Lâm Tế,

            Trước Khi Viên Tịch Ngài Nói Thi Kệ :

 

Sấu Trúc Trường Tùng Trích Thúy Hương,瘦竹長松滴翠香

Lưu Phong Sơ Nguyệt Độ Vi Lương.流風初月度微涼

Bất Tri Thùy Trụ Nguyên Tây Tự,不知誰住原西寺 ?

Mỗi Nhựt Chung Thanh Tống Tịch Dương.每日鐘聲送夕陽

       

HT.Thanh Từ, Dich:

        Tre gầy thông vót nước rơi thơm,

           Gió thoảng trăng non mát rờn rờn.

           Nguyên Tây ai ở người nào biết?

           Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.

 

HT. Huyền Tôn, Dịch:

        Tùng dài tre ốm nhỏ giọt thơm,

           Trăng non gió thổi mát nhẹ vờn,

           Nguyên Tây cổ tự ai đang ở ?

           Chuông chùa ngân tỏatản hoàng hôn.

Nói kệ xong, Sư bảo đại chúng; “Nếu ai động tâm khóc lóc,không phải là đệ

        Tử cùa ta”. Sư ngồi yên thị tịch, mùi hương lạ. đầy chùa cả tháng mới tan.

         Đồ chúng xây tháp để nhục thân của Sư tại núi Phật Tích,

        Kính mến chào độc giả!. HT.Thích Huyền Tôn.

        Mùa Vu-Lan 2642, VL.4897. Kỷ-hợi (TL.2019). 

       

 

 

       

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/04/2025(Xem: 5773)
Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn. Mỗi người có một hướng đi cho riêng mình, Học tập suốt đời với mọi hoàn cảnh mưu sinh Dễ biến thành thói quen khi trải nghiệm phong phú ! Vì kiến thức mọi lãnh vực biết sao cho đủ? Nên mục tiêu cần phải “rèn luyện không mệt mỏi để tự nâng cao bản thân” Vì công việc của một người đã thể hiện thái độ từng cá nhân Đồng thời cũng thể hiện lý tưởng, chí hướng về cuộc sống! (1)
26/04/2025(Xem: 6411)
Con đường Tỉnh Thức được vinh danh Nhất Hạnh Thiền Sư nhiếp lợi hành Tu Viện Làng Mai truyền tĩnh lự Đường xưa mây trắng ngát trời xanh Bốn phương con Bụt tâm quy ngưỡng Giây phút nhận chân nghiệp ác lành Chánh niệm thường hằng tâm chế tác Giồi giàu năng lượng kết tinh anh
22/04/2025(Xem: 5389)
Con ơi mẹ chẳng cần chi Mong con ứng xử những khi mẹ còn Cho đúng bổn phận làm con Là gương sáng để con soi con vào Cho dù sức khỏe thế nào Tuổi già, tất phải dựa vào con thôi
22/04/2025(Xem: 4575)
Một định nghĩa đúng đắn đầy đủ về Chánh niệm (1) Khiến giật mình sao đôi lúc cứ mãi nghĩ vẩn vơ Khó dập tắt nhiều ý nghĩ chợt đến chợt đi một cách bất ngờ Thì ra phải tu tập hoài … từ những thực tế khiếm khuyết !
22/04/2025(Xem: 5570)
Tôi có nhân duyên về lại ngôi chùa Quảng Duyên, thuộc thành phố Bridge, thuộc Tiểu bang Texas, số 163 Mann St, trong một khung cảnh hữu tình nên thơ. Nơi Thượng Toạ Thích Minh Nhựt làm trú trì, ngôi chùa được khai Sơn từ năm 2015 tới nay đã gần 10 năm thành lập, một nhân duyên huy hữu là ngôi chùa do một vị thí chủ cung tiến trên mảnh đất của gia đình họ, với nệnh giá không đồng USA, thật sự là mầu nhiệm trong Chánh pháp, khi tâm cung kính chư Phật thì chắc chắn sẽ luôn luôn mang lại nguồn an trú trong pháp hành tâm pháp…!
18/04/2025(Xem: 5016)
Bài này sẽ phân tích một số quan điểm trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
16/04/2025(Xem: 5312)
"Phật sở hành tán" (Buddhacarita) được xem là tác phẩm "trường ca" đầu tiên, của Phật giáo Bắc truyền viết về cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tác giả Phật sở hành tán (PS HT) là Đại sĩ Mã Minh (As'vaghosa 100-160 TL), nhà luận thuyết đã có những đóng góp lớn lao vào quá trình hình thành hệ thống Phật giáo phát triển, Phật giáo Bắc truyền. Ngoài PSHT, những tác phẩm nổi tiếng khác của Đại sĩ Mã Minh còn có "Luận Đại Thừa Khởi Tín", "Đại Trang Nghiêm tinh luận"
12/04/2025(Xem: 4170)
Cảm tạ thâm ân dưới Phật đài Thầy Tổ, Tam Bảo tạo duyên may Cuối đời duyên đến mang xuân lại Cho con sanh lại được lần này
03/04/2025(Xem: 5814)
Nhớ hôm bác ghé đến thăm Ánh mắt mừng vui tha thiết Bác cười khi nghe kinh Phật Tay lần tràng hạt liên mien Nhưng nay nhẹ gót về Tây Chắc rằng Bác gặp Di Đà Ngài đang tiếp dẫn giang tay Thanh Nghiêm! Sen nở nơi này