Tụng Kinh (thơ)

03/12/201601:57(Xem: 12003)
Tụng Kinh (thơ)

TỤNG KINH

 tung-kinh

Bác nông dân rất thiết tha

Đi mời tu sỹ về nhà tụng kinh

Cầu cho vợ được siêu sinh

Vợ yêu khuất núi, gia đình nhớ nhung.

Khi tu sỹ tụng kinh xong

Bác bèn ướm hỏi với lòng hoài nghi:

"Phước do lời tụng kinh kia

Vợ tôi chẳng biết hưởng gì được chăng?"

Mỉm cười tu sỹ nói rằng:

"Tụng kinh lợi ích sẽ mang tốt lành

Lợi cho bác gái đã đành

Còn cho tất cả chúng sinh hữu tình!"

Bác nông dân chợt lặng thinh

Rồi lo ngại hỏi: "Tụng kinh phước nhiều

Vợ tôi hưởng được bao nhiêu

Theo như thầy nói những điều mới đây

Chúng sinh chung hưởng phước này

Sẽ giành sẽ giật hết ngay phước rồi

Vợ tôi yếu đuối, thua người

Hưởng chi công đức của lời cầu kinh,

Thầy ơi! Thầy có thương tình

Xin thầy chỉ tụng cho mình bà thôi!"

Ôn tồn tu sỹ trả lời:

"Người con Phật phải sống đời từ bi

Lòng tham, tự ngã dẹp đi

Quyết tâm hồi hướng phân chia phước lành,

Tụng kinh công đức tạo thành

Hiến dâng cùng khắp chúng sinh muôn loài!".

*

Bác nông dân ngẫm nghĩ hoài

Sau khi nghe kỹ được bài giảng trên

Cuối cùng bác khẽ thốt lên:

"Lời thầy vừa dạy quả nhiên tốt lành

Nhưng xin thầy hãy nể tình

Trừ ra một kẻ gian manh, xấu tồi

Đó là hàng xóm của tôi

Bất lương, hung bạo, lắm lời xưa nay,

Xin thầy loại hắn ra ngay

Đừng chia phước báu khi thầy tụng kinh

Đừng cho hắn hưởng an bình

Loại ra khỏi đám chúng sinh của thầy!"

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

 

(phỏng theo Reciting Sutra

trong tập truyện văn xuôi 101 ZEN STORIES

của Nyogen Senzaki và Paul Reps)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/04/2014(Xem: 26849)
Hôm nay Phật Đản trở về Ta Bà hiện cảnh hoàng quê năm nào Từ trời Đâu Xuất trên cao Hộ Minh Bồ Tát nguyện vào Phật (ứng) thân. Ma Gia mộng ứng điềm lành Voi ngà sáu chiếc hóa sanh Thánh hiền Bảy đóa sen quý kim liên Ưu đàm một đóa Thánh hiền Đản sanh.
13/04/2014(Xem: 15182)
Hai chiếc bình trống rỗng Một đậy nắp một không Thả hai bình xuống biển Một chiếc nổi bềnh bồng
13/04/2014(Xem: 13962)
Có khi nào gió hỏi Gió thổi từ phương nao Có khi nào đá hỏi Đá có tự thuở nào Có khi nào sông hỏi Nước từ đâu chảy về Có khi nào trăng hỏi Đêm sao dài lê thê
12/04/2014(Xem: 45972)
Một là tội tạo từ xưa Nặng thì thành nhẹ, nhẹ trừ tiêu luôn Hai là được các thiện thần Dẹp tan hoạn nạn tai ương ngục tù Ba là tránh mọi hận thù Giải oan đời trước cũng như đời này Bốn là hùm rắn có vây
09/04/2014(Xem: 15728)
Có Xuân nào, Không mai vàng trước ngõ Không câu đối giao mùa, Tỉnh thức – Xuân từ đó… Giọt sương trong – Phật Thừa !
31/03/2014(Xem: 16321)
đám mây đi qua dòng sông tôi mất bóng và tôi vỡ ra dập dềnh trôi xác ma quá khứ tế bào óc tim tóe lên ánh lửa bập bùng bên này leo lét bên kia bít bùng thế giới đa tri đường ngược đường xiên
29/03/2014(Xem: 14632)
Đi tu chẳng phải trốn đời Đi tu cốt để chuyển dời tánh, tâm. Đi tu chẳng mộ tiếng tăm Đi tu chỉ để âm thầm Độ, Tha (*) Đi tu thức giấc Nam Kha Đi tu để thoát Ái hà mênh mông .
29/03/2014(Xem: 24763)
Trời đất mênh mang sương khói, một thời thơ trẻ dại, bàng bạc nắng quái u buồn nơi quê nhà giữa hai đầu biển núi lung linh. Sinh năm 1952 ở Quán Rường, Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam, một chốn miền “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” ấy, Nguyễn Lương Vỵ lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học. Từ thuở nhỏ vốn bẩm sinh có năng khiếu làm thơ, đặc biệt được ông nội ( nguyên là một nhà Nho, có thời kỳ làm chánh tổng ) trực tiếp truyền dạy các loại thơ tứ tuyệt, Đường luật, nên biết mần thơ ngay từ lúc 12, 13 tuổi, thuở còn chạy rông chơi bên mấy cổ tháp rêu phong Chiên Đàn, cạnh dòng sông Tam Kỳ và bãi biển Tam Thanh xanh biếc mộng.
26/03/2014(Xem: 14798)
Sen kinh Phật Loài hoa tiết hạnh dị thường Đêm đêm giữ ngọc, gìn hương cho đời Trinh nguyên lay động đất trời Thơm câu kinh Phật, ngát lời ca dao.
26/03/2014(Xem: 16247)
Nếu đánh mất đi Nhiệt Tâm Con người trở nên lạnh nhạt Năm tháng trôi qua âm thầm Một ngày, một đời không khác.