Quan Âm Thị Kính (thơ)

16/05/201516:55(Xem: 17496)
Quan Âm Thị Kính (thơ)


quan am thi kinh

QUAN ÂM THỊ KÍNH

1.
Trong các truyện cổ tích xưa, tôi nghĩ
Truyện Quan Âm Thị Kính được nhiều người
Biết và đọc, vì có nhiều triết lý
Về nhân tình thế thái, chuyện muôn nơi.

Sao thế nhỉ, sao cuộc đời cứ bắt
Người đàn bà phải gánh chịu buồn đau
Và oan trái, mới được tôn làm phật
Để quanh năm phải mưa nắng dãi dầu?

Trong khi đó, trong đời thường, lặng lẽ
Lo đảm đương các thiên chức đàn bà,
Họ là phật, phật chính danh, cứu thế,
Cứu hàng ngày cuộc sống thật chúng ta.

Họ là phật, hay cũng gần như vậy,
Thế mà ta không kính trọng, tôn thờ.
Cái khái niệm đàn bà và nước mắt
Không vô tình được nhắc mãi trong thơ.

2.
Chuyện kể xưa, có một người đức hạnh
Đã trải qua chín kiếp, chín đời người,
Luôn tu luyện mà vẫn chưa thành thánh,
Nên Thích Ca quyết định kiếp thứ mười

Cho đầu thai thành một trang nhi nữ,
Một gia đình khá giả nước Cao Ly.
Chả là Ngài lần cuối cùng muốn thử
Để cho thành Bồ Tát của Mầu Ni.

Cô bé ấy được sinh ra như ý,
Được đặt tên Thị Kính, lớn, đến ngày
Được gả chồng, thư sinh Sùng Thiện Sỹ,
Quả trai tài gái sắc, hiếm xưa nay.

Một tối nọ, vợ ngồi bên may vá,
Chàng thư sinh nằm đọc sách, và rồi
Chàng ngủ thiếp, thấy sợi râu trên má
Mọc khá dài, lại mọc ngược, khó coi,

Sẵn con dao, nàng cầm lên định cắt
Thì chồng nàng chợt tỉnh, vội kêu lên
Vì thầy vợ đang dí dao vào mặt,
Giết anh ta - một tội ác đê hèn!

Bỏ ngoài tai lời thanh minh của vợ,
Chàng thư sinh cùng bố mẹ, ông bà
Cứ một mực kết tội nàng vô cớ,
Rồi dắt nàng đem trả lại thông gia.

Thật nhục nhã, thật đau lòng, hơn thế,
Thật oan sai nhưng không biết làm gì,
Để giải oan và đền ơn bố mẹ,
Nàng cuối cùng đã quyết định ra đi,

Đi lặng lẽ, không một người hay biết,
Để than ôi, lần nữa lại đề tài
Của đàm tiếu, rằng hư thân, mất nết,
Nàng bỏ nhà, bỏ cha mẹ theo trai.

Nàng cởi bỏ bộ áo quần phụ nữ
Rồi cải trang thành nam giới, cạo đầu
Xin vào tu trong ngôi chùa Vân Tự,
Nguyện một lòng nương cửa phật dài lâu.

Sư trụ trì lâu năm ngôi chùa ấy,
Vốn vị tha, đã chấp nhận, và nàng
Được đổi tên thành Kính Tâm, từ đấy
Cuộc đời nàng lặng lẽ lật sang trang.

Tưởng như vậy đã yên xuôi mọi nhẽ,
Thế mà không, lại tai họa bất ngờ.
Trong làng ấy có một cô gái trẻ
Tên Thị Mầu, khá nhẹ dạ, ngây thơ.

Cô là con một phú ông có cỡ,
Theo mẹ cha lên lễ phật, và rồi,
Thấy Kính Tâm, bèn thầm yêu trộm nhớ,
Cũng nhiều lần tỏ tình ý, than ôi,

Nhà sư trẻ Kính Tâm không đáp lại,
Khiến cô ta rất thất vọng, buồn rầu.
Vốn lẳng lơ, và trong cơn tự ái,
Đã tư tình với đầy tớ, về sau

Đến ngày tháng, bụng to, làng phạt vạ.
Bị người ta căn vặn mãi, cô này
Bèn đổ lỗi cho Kính Tâm tất cả.
Thế là nàng, dẫu lý đúng, tình ngay,

Vẫn bị đánh rất đau, và sư cụ
Phải đứng ra xin nộp phạt, thế là
Được về chùa, không sống trong phòng cũ,
Mà ở ngoài mái chái, tít đằng xa.

Cái nhân vật Thị Mầu này, phải nói,
Gian thì gian, nhưng thú vị. Sau này
Được sân khấu tô vẽ thêm, rất nổi
Và cũng thường được nhắc đến xưa nay.

Một hình tượng dân gian vui, dân dã,
Nhất là khi có Mẹ Đốp đi kèm,
Vừa chua ngoa vừa lẳng lơ mà ả
Nhận được nhiều tán thưởng của người xem.

Khác Thị Kính suốt đời luôn nhẫn nhục,
Thị Mầu ta thì phản kháng, bất cần.
Một biểu tượng đấu tranh đòi hạnh phúc,
Đậm chất người, đầy sức sống, vân vân...

3.
Khi Thị Mầu sinh con trai, đứa bé
Bị phú ông bắt trả lại nhà chùa,
Trả Kính Tâm lúc này đang lặng lẽ
Ngồi một mình niệm Phật giữa ban trưa.

Nghe tiếng khóc, nàng đi ra, chợt thấy
Đứa con trai bị bỏ lại bên đường,
Còn Thị Mầu thì bước đi như chạy.
Vồn là người trắc ẩn, động lòng thương,

Nàng Thị Kính, tức Kính Tâm, vội vã
Đem về nuôi, từ đó một mình nàng
Vừa chịu nhục, vừa khổ tâm, vất vả
Bế con đi xin bú sữa khắp làng.

Khi thằng bé lên ba, ngoan, giống “bố”,
Cũng là khi Đức Phật Tổ nghĩ thầm:
Con người này nhận đủ phần đau khổ,
Đã đến ngày thành Bồ Tát Quan Âm.

Liền sau đó, thấy toàn thân bải hoải,
Sư Kính Tâm, không đau đớn, nhẹ nhàng,
Nằm xuống chết, có phong thư để lại
Nhờ con trai đưa đến hộ nhà nàng.

Lúc liệm xác chôn cất nàng, hết thảy
Rất ngạc nhiên và cũng rất đau lòng
Khi thấy nàng là nữ nhi. Nghe vậy
Người trong làng kéo nhau đến rất đông.

4.
Trong khi đó, thư sinh Sùng Thiện Sỹ,
Nhờ bức thư nàng gửi lại, lúc này
Biết mình sai, liền vội vàng chuẩn bị
Kíp lên đường đến dự lễ ma chay.

Sư trụ trì cùng nhà chùa làm lễ
Để giải oan cho Thị Kính; dân làng
Bắt phú ông chi tiền mua vật tế,
Còn Thị Mầu phải theo bước xe tang.

Bỗng đột nhiên một đám mây ngũ sắc
Từ trên cao hạ xuống đúng ngang tầm
Chiếc quan tài, Phật Thích Ca nghiêm khắc
Cho nàng thành một Bồ Tát Quan Âm.

Lại nói chuyện thư sinh Sùng Thiện Sỹ,
Rất đau lòng, khi kết thúc ma chay,
Muốn suốt đời được thảnh thơi yên nghỉ,
Đã đi tu, và ở lại chùa này.

5.
Nàng Thị Kính vậy là lên thành phật,
Nhưng than ôi, vẫn còn đó trên đời
Nhiều đau khổ và rất nhiều nước mắt,
Cũng rất nhiều những đứa bé con rơi.

Ít hy vọng nhiều người nơi hạ thế
Một ngày kia thành Bồ Tát, và Bà,
Dẫu nghìn mắt và nghìn tay, có thể
Cứu loài người thoát nỗi khổ trầm kha.

Vâng, rất ít, nhưng vẫn còn hy vọng
Và chúng ta phải cố bám, chừng nào
Ta còn khổ, nghĩa là ta còn sống,
Vì cuộc đời vẫn vậy, biết làm sao...

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/12/2025(Xem: 2175)
Cách đây đã lâu Hơn nửa thế kỷ Tại làng Vĩnh Thái, Thành phố Nha Trang Có một cậu bé Cất tiếng chào đời Cha Mẹ mừng vui Anh em thương mến Nét mặt tinh khôi Nhoẻn miệng cười tươi Cậu là con út Trong một gia đình
19/12/2025(Xem: 3479)
Nhận được Ý NGHĨA ĐẠI HỘI trong bản thông tin gửi đi cũng như lời kêu gọi tham gia trực tuyến qua hệ thống Zoom, để tạo cơ hội cho chư Tôn Đức Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử, học giả và thiện hữu tri thức khắp năm châu cùng tham dự, chia sẻ và đóng góp ý kiến xây dựng trong tinh thần hòa hợp và phụng sự. Với những lời thâm tình tha thiết “Đại Hội Hoằng Pháp lần thứ III không chỉ là dịp tổng kết và định hướng Phật sự, mà còn là cơ hội kết nối Tăng Ni – Cư sĩ – học giả trong tinh thần “Hoằng Pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp.”và để cùng nhau tiếp nối ngọn đuốc trí tuệ và từ bi mà Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ cùng chư vị Tổ sư đã truyền trao.
19/12/2025(Xem: 2574)
RỒI ta xả chấp giữa dòng TRƯỚC phong ba đón rộp phồng hai vai MẮT nhìn giải thoát không hai NGỤC đen trí trá bi hài nắm cơm TÙ gông không khởi oán hờn THÂN gầy tắm pháp bôi trơn nhạc thiền BÉ lòng chứa cả tam thiên BỎNG da chưa thấm tháp phiền trược đau
19/12/2025(Xem: 2286)
Trong ngọn nến lung linh Hồn ai theo gió lướt về đây Theo khói nhang, lời kinh nguyện Hệ lụy đã tàn bay Bởi chiến tranh, bạo động Bởi dịch bệnh thiên tai Bởi chết oan tức tưởi không lời
18/12/2025(Xem: 2819)
Đại tường tưởng niệm bậc chân nhân Duy thức thâm uyên chí xuất trần Chẳng ngại gian lao hành nguyện sấm Không màng khổ lụy trải nguyền âm Quê nhà đạo mạch khơi nguồn ấn Đất khách thiền hà mở suối tâm Thạch trụ tòng lâm gương đức sáng Thắng Hoan Hoà Thượng rạng ngời Xuân
18/12/2025(Xem: 2174)
Quặn lòng trở lại đảo quê nhà Cây bàng cổ thụ vẫn chưa già Tuổi đời mình nhìn lên tóc trắng Mẹ theo về thành hũ tro ma. Côn Đảo quê xưa thuở ấu thời Trong ngủ mơ thấy cả cuộc đời Có mẹ có cha cùng em nhỏ Giờ còn ai nữa để cúng mời.
10/12/2025(Xem: 3061)
Hạnh phúc của tuổi trẻ thường nằm ở hy vọng ! Hạnh phúc của tuổi hoàng hôn, lại mang đầy sự tri ân Nếu đời là cánh đồng bạt ngàn mênh mông Thì mỗi cuộc gặp gỡ, giống như mỗi nhánh lúa vàng rộ chín!
04/12/2025(Xem: 3277)
Có những người thầy không đứng trước ta, giảng giải thế nào là rèn luyện ! Mà đi bên cạnh ta như một ngọn đèn trầm, Tỏa hương lặng lẽ, dẫn đường theo cách âm thầm Người thầy ấy biết rằng con đường hạnh phúc không thể trao cho nhau bằng lời dạy, mà bằng sự hiện diện,
04/12/2025(Xem: 3427)
(Qua tác phẩm “The Art of Happiness in a trouble world”– Đức Đạt Lai Lạt Ma & Howard Cutler. Và những tư tưởng của các bậc hiền triết Đông-Tây ) (Trân trọng kính dâng tặng những vị Thầy tâm linh và đặc biệt riêng gửi đến TT. Thích Nguyên Tạng nhân dịp sinh nhật lần thứ 59 vào ngày 5/12/2025 ) Hạnh phúc — trong cái nhìn tâm linh — không phải là một điểm đến để nắm bắt, mà là sự khai mở dần dần của tâm thức. Nó giống một buổi bình minh: ánh sáng không bừng lên ngay tức khắc, mà lan từ từ, dịu dàng, đánh thức từng mảng tối trong lòng người.
02/12/2025(Xem: 3376)
( Cảm tác từ tác phẩm “ The Unbearable Lightness of Being” nổi tiếng nhất của Milan Kundera viết năm 1982 và xuất bản lần đầu tiên năm 1984 tại Pháp. Bản tiếng Việt “ Đời Nhẹ Khôn Kham “do dịch giả Trịnh Y Thư dịch từ bản tiếng Anh (The Unbearable Lightness of Being của Michael Henry Heim) xuất bản năm 2002 tại Hoa Kỳ. “ Đời Nhẹ khôn kham" lấy bối cảnh chủ yếu ở Praha trong những năm 60-70, tiểu thuyết đã mô tả đời sống của tầng lớp nghệ sỹ và trí thức của xã hội Czech đương thời, cùng với đó là gợi ra những vấn đề triết học căn cốt và sâu sắc. Hơn thế nữa tác phẩm này dạy chúng ta về sự nhẹ nhàng và nặng nề trong cuộc đời, về ý nghĩa của tự do cá nhân và trách nhiệm, và cách đối mặt với sự ngẫu nhiên của số phận.