Tu Viện Giác Hải...

24/09/201407:36(Xem: 18623)
Tu Viện Giác Hải...

Chua Giac Hai Ninh Hoa (10)

TU VIỆN GIÁC HẢI:

CHỐN GIÀ LAM ĐẦY ẮP THI CA VÀ HUYỀN THOẠI


 

         Ngọn núi nhỏ Phổ Đà, còn được gọi là Núi Ông Sư, thuộc địa phận làng Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh- tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố biển Nha Trang khoảng 50 cây số về hướng Bắc, có hình thù của một “ông Tượng” nằm giữa một vùng mây nước hữu tình, tứ bề sơn thủy làng mạc bao bọc tạo nên một bức tranh phong cảnh bàng bạc thơ mộng và thiêng liêng ấm cúng.

          Vào năm 1956, Sư Viên Giác- pháp danh Tâm Trí, pháp hiệu Chiếu Nhiên, một môn đồ xuất chúng của Bích Không Đại Sư (tức Hòa thượng Thích Giác Phong)– sau nhiều năm hoằng pháp khắp các tỉnh miền Trung và cao nguyên, đã chọn nơi đây để tạo lập nên một chốn già lam thanh tịnh mang tên Giác Hải. Tu viện mang một hình hài mộc mạc, kiến trúc đơn sơ, không nguy nga tráng lệ, không đồ sộ cầu kỳ, nhưng hiển hiện giữa một vùng hoang sơ thanh vắng vào thời điểm đó, đã nghiễm nhiên trở thành một danh lam của xứ trầm hương Khánh Hòa. Đặc biệt nhất là Điện thờ Quan Âm Nam Hải được kiến tạo ngay trên đỉnh núi, bên trái phía sau ngôi chánh điện, với thánh tượng Bồ tát bằng thạch cao trắng muốt đứng nhìn ra hướng Đông có vịnh Vân Phong biển xanh biên biếc, mênh mang mây trời, đã đi vào huyền thoại với bao câu chuyện linh ứng nhiệm mầu… Năm 1972, bên chân tượng của Đức Bồ tát Quán Thế Âm, Sư Viên Giác đã ra đề thơ cho Nữ sĩ Tâm Tấn cảm tác, và thi phẩm “Giác Hải đêm huyền” được ra đời:

 

“Hải Đăng trăm ánh… ngoài khơi sâu lấp lánh Phò Nguy

Tinh Tú huyền vi… đêm tỏa sáng đường đi Cứu Khổ

Sóng Nam Hải run run nép sợ

Mây Phổ Đà nín thở, cúi đầu

Ngày… chim thuần lý ngàn câu

Gió hòa Pháp ngát nhiệm mầu mười phương

Đêm… hoa cây cỏ nhuần sương

Thấm trăng Phổ Độ, ướp hương Đại Từ.

Khi hướng thượng gồm thu Tịnh Pháp,

Hạnh Từ Bi sáng khắp linh tòa

Quán Âm muôn vạn sát –na

Soi đèn Trí Huệ, châm hoa siêu phàm;

Khi hạ hóa Bi vang sấm động

Phủ hạnh Từ chiếu rộng mây lành,

Cảm thương tiếng khóc nhân sinh

Ba-mươi-hai ứng Thân… hành Nguyện chung.

Ban uy lực vô cùng vi diệu

Hải Triều Âm… nhạc diệu siêu linh

Nhành Dương dập lửa vô minh

Cam Lồ một giọt muôn hình hoàn sanh.

Niềm suy tưởng long lanh Tinh Tú

Trăng hào quang mơ phủ lên đầu!

Không gian thoáng hiện vòng cầu

Nhập miền linh giác quy hầu Phổ Môn”

 

          Bài thơ sau đó được lưu truyền trong giới Phật giáo, đã được chư Tăng Ni, cũng như những Phật tử yêu văn chương thi phú tán thán, nhất là hai câu: “Sóng Nam Hải  run run nép sợ; Mây Phổ Đà nín thở, cúi đầu, như một câu đối tuyệt diệu để tôn kính ngợi ca vẻ uy nghiêm thánh thiện của một vị Bồ Tát được cư dân ở khắp các miền biển, ở những làng chài chạy dài theo miền duyên hải của đất nước bao đời thờ phụng quy kính…

          Huyền thoại về chốn già lam Giác Hải thì có rất nhiều, đã lưu truyền trong dân gian, và đi vào cả thi ca, sử sách, trong đó còn có câu chuyện về giếng nước trong vắt được đào sâu vào lòng núi đầy đá cứng đất khô…

“Vạn Ninh có núi Phổ Đà

Có chùa Giác Hải, có tòa Quan Âm

Non Vô Thượng, Giếng Thậm Thâm

    Quên mùi tục lụy, cõi lòng hân hoan!”

            Đó là bài thơ rất ít ai được biết là của chính Cư sĩ Tôn Thất Tán ở Nha Trang thường hay ra Vạn Ninh làm Phật sự đã hạ bút cảm tác, hai câu đầu “thi phẩm tứ tuyệt” này đã được truyền khẩu và trở thành ca dao địa phương, bất tử với thời gian …

            Lần giở các cuốn địa chí Khánh Hòa như “Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn, hay “Non Nước Khánh Hòa” của Nguyễn Đình Tư, đều thấy có nhắc đến ngôi chùa huyền thoại nằm bên vịnh Vân Phong hình bán nguyệt xanh biếc này. Bao thi nhân vãn cảnh sinh tình, hết người này lưu bút, đến vị khác đề thơ:

 

“Viếng cảnh Xuân Sơn yết Phật đài

Xa lìa bể khổ, sạch trần ai

Núi mây ba phía êm đềm nhỉ

Thiền viện mấy tòa đẹp đẽ thay!

Nói Pháp giảng kinh luôn sớm tối

Hồi chuông gầm sóng suốt đêm ngày

Khen ai khéo chọn nơi tu dưỡng

                     Độ được mình, thêm độ được người!”(Mai Phong)

 

                Hay bài thơ xướng:

 

“Phổ Đà có phải cõi Tây Thiên

Tượng núi Quan Âm phép diễm truyền

Đá hãy gật đầu si tánh Phật

Hạc còn quỳ gối trước hài Tiên

Trăng mây Biển Giác nên câu kệ

Mượn nước Sông Nha rửa tấm phiền

Là giống hữu tình đâu chẳng gặp

                           Tu hành e cũng có căn duyên!” (Đào Chi Tiên)

 

                  Và, chính Sư Viên Giác đã hạ bút họa lại:

 

“Chính đây, phải lắm, cảnh Tây Thiên

Thắng tích danh lam tự cổ truyền

Đế Thích hằng lai chiêm Thọ Phật

Quán Âm thường hiền độ Na Tiên

Xưa nay Biển Giác ly câu kệ

Sẵn nước Ma Ha chẳng não phiền

Thanh tịnh một mầu, đâu dễ gặp

Ngậm vành trăng sáng cũng tùy duyên!”

 

             Hòa thượng Thích Viên Giác là một vị cao tăng đạo hạnh đã đóng góp nhiều tâm huyết trong công cuộc chấn hưng, bảo vệ và hoằng dương Phật  pháp. Trước khi khai sơn lập tự Tu viện Giác Hải, Ngài đã từng đảm đương chức vụ Giám đốc Phật Học Đường Khánh Hòa  đồng thời trụ trì chùa Hải Đức ở Nha Trang(1954), cùng chư Tôn Đức thành lập Phật Học Viện Trung Phần từ chùa Hải Đức (1956), thành lập và điều hành trường Bồ Đề Tuệ Quang (Đà Lạt), lập trường Phật học cho Tăng sinh tại Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh). Sau Pháp nạn năm Quý Mão(1963), Ngài giữ chức Thư Ký Tổng Vụ Hoằng Pháp trực thuộc Viện Hóa Đạo, rồi về giảng dạy tại Phật học viện Trung phần và Ni viện Diệu Quang (Nha Trang). Là một tăng nhân yêu văn chương thi phú, trong thời gian dài về sau này, Ngài không chỉ chuyên tâm dịch kinh, trước tác nhiều tác phẩm quý giá, mà còn sáng tác những thi phẩm mang đậm giáo lý Phật Đà. Kinh sách Ngài để lại cho đời gồm: Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, Đại Thừa Kim Cang kinh luận, Phẩm Phổ MônQuan hệ tư tưởng, Tìm hiểu Quán Thế Âm Bồ Tát, Lịch sử phong cảnh chùa Giác Hải, Khuyên niệm Phật (tập thơ)…  Vào sáng ngày 14 tháng 7 năm 1976 (Bính Thìn), Ngài thâu thần thị tịch ngay tại chùa Giác Hải, hưởng thọ 65 tuổi đời, 28 hạ lạp, được chúng đệ tử an táng và xây bảo tháp thờ phụng nghìn thu trên triền đồi gần bên Điện Quán Thế Âm linh thiêng huyền thoại. Trên tấm bia của một mặt bảo tháp, còn lưu khắc thi phẩm “Hướng về Thầy” của Thích Tịnh Từ, một  thi nhân đệ tử của Ngài:

 

“Giả thân Thầy đã xa rồi

Tinh anh còn đó bên đồi tịch liêu

Lắng nghe mõ sớm chuông chiều

Bâng khuâng hải đảo, sóng triều lặng yên

Buồm ai ngược gió chèo thuyền

Qua bờ giác ngạn, vượt miền trầm luân

Lời Thầy con trẻ gọi nhuần

Đức Thầy lưu hiện ma quân quy đầu”

 

                       Từ sau khi Sư Viên Giác viên tịch đến nay, đệ tử của Ngài là Thượng tọa Thích Tịnh Diệu, đã cùng với sư huynh đệ đồng môn từng bước trùng tu lại ngôi chánh điện, điện Quan Âm Nam Hải, cổng tam quan, tường rào bao bọc, kiến thiết thêm nhiều công trình mang đậm nét nghệ thuật như nhà chuông, tượng đá… hòa cùng với cây cảnh đủ sắc màu, tạo nên một chốn già lam thắng tích danh bất hư truyền…

            Về với Tu viện Giác Hải hôm nay, cảnh cũ người xưa đã biến đổi rất nhiều, vườn thiền cảnh tịnh luôn rộng mở đón đưa lữ khách thập phương ra vào trong không khí im ắng trong lành. Từng bước chầm chậm lên những bậc tam cấp lặng im giữa các cặp sư rồng nghinh chầu, đứng ngắm nhìn nụ cười đầy hỷ lạc của bức tượng Di Lặc Tôn Phật bằng đá phía trước chánh điện, vào trong một sảnh đường ngắm nhìn “Bản kinh Phẩm Phổ Môn” được viết tay trên giấy khổ rất lớn lồng trong khung kính treo trên vách (có thể là một kỷ lục của Phật giáo Việt Nam chưa được phát hiện và xác lập), lững thững vòng ra khoảnh sân rợp bóng mát để chiêm bái hình tượng Thủy Nguyệt Quan Âm ngồi trên phiến đá nhìn trăng trong nước với phong thái ung dung thanh thoát, xuống lại đến sân dưới dừng chân trước hai gốc me cổ thụ già vài trăm tuổi, hay bước vào đứng giữa gốc xoài nhiều nhánh tỏa vươn lên cao như những cánh tay của thánh nhân khổng lồ; lang thang ra phía trước ven theo dãy tường rào để bắt gặp một hồ nước rộng thênh có tung tăng cá lội, nếu hữu duyên thì được leo ngồi trên chiếc thuyền con, tự tay cầm mái chèo quẫy nước ra đến một ốc đảo nho nhỏ giữa hồ để bái lễ thánh tượng Quan Âm Nam Hải và Thiện Tài Đồng Tử, đó chính là pho tượng Quán Thế Âm mà thuở khai sơn lập tự từng an vị trên đỉnh núi đã được dời xuống với cảnh mới chẳng khác nào tiên cảnh bồng lai… Trở vào lại bờ, qua một lối đi nhỏ trải đầy những cánh hoa phượng đỏ au, vượt lên con dốc được màu xanh cây lá bao phủ bên trên để đến trước Nam Hải Quan Âm Đại Điện uy nghiêm trầm mặc… Đứng nơi đó, quay nhìn về hướng mặt trời mọc, một bức tranh thiên nhiên thủy mặc tuyệt mỹ với non nước biển thuyền của vịnh Vân Phong hiện ra trước mắt, mênh mang trời xanh mây trắng, lồng lộng gió mát hương loang, lữ khách ắt sẽ thấy hết muốn trở về với “sơn hạ hồng trần hung mãn mộng” (dưới núi bụi hồng đầy mộng dữ)… Cuối năm 2001, lặng lẽ về nơi xưa chốn cũ, Nữ sĩ Tâm Tấn đã đứng nới đó, lòng rung cảm xúc, ý thơ tuôn trào, để rồi lưu lại thi phẩm “Thăm lại chùa xưa” vào kho tàng thi ca của chốn già lam huyền thoại này:

 

“Quanh Điện Các non trùm uy lực

Trước Ngôi Thiền biển trải Đại Bi

 

Ngắm Vịnh Vân Phong, nhớ bóng Thầy

Ngày xưa… vin gậy ngắm trời mây

Câu Thơ phá Thạch, Thơ xưng tán

Ý Đạo khai Sơn, Đạo hiển bày.

 

Chấp Pháp danh môn hàng kế thừa

Truyền lưu thông tuệ bậc Uyên ưu

Triền non Tháp Tổ tờ mây trải

Trăng Bút Lăng-Già ấn Sử xưa…”

             Và, còn nhiều hơn như vậy nữa. Nếu hữu duyên đến vãn cảnh Tu viện Giác Hải,  chúng ta sẽ nhận ra một điều: chính chốn già lam đầy ắp thi ca và huyền hoại này đã là một bài thơ bất tuyệt không cùng, đâu cần  phải viết ra văn tự…

 

                                                                               TÂM KHÔNG - VĨNH HỮU




 

 Chua Giac Hai Ninh Hoa (2)Chua Giac Hai Ninh Hoa (3)Chua Giac Hai Ninh Hoa (6)Chua Giac Hai Ninh Hoa (10)Chua Giac Hai Ninh Hoa (12)Chua Giac Hai Ninh Hoa (13)

Ý kiến bạn đọc
05/09/201801:48
Khách
Nam mô Phật!
Thật là thiếu sót khi đến hôm nay TKVH mới đọc được những dòng nhắn giử hỏi thăm của bạn Trần Đỗ Yến Nhi. TKVH cùng chỉ là hàng hậu sinh, nên cũng không biết rõ lắm về Cố HT. Thích Viên Giác.
Phước thay, người biết rất nhiều về HT là mẫu thân của TKVH, hiện vẫn đang còn hiện hữu, năm nay đã 98 mà vẫn còn minh mẫn sáng suốt, cho nên TKVH sẽ hỏi xin thêm thông tin về HT. Viên Giác từ nơi Mẹ.
Để tiện liên hệ thông tin, bạn TĐYN cứ gọi số phone của Vĩnh Hữu 0902 0107 63, đang ở Nha Trang- Khánh Hòa- Việt Nam.
Chúc mọi sự An Lành.
29/09/201618:25
Khách
Cảm ơn thật nhiều cho bài viết này. HT. Thích Viên Giác là Bác ruột của Ba của con (Trần Đại Trình), cho nên khi tìm được thông tin của HT. Thích Viên Giác trên mạng con cảm thấy hạnh phúc vô bờ. Xin hỏi có thể nào cho Nhi email hoặc số DT của TÂM KHÔNG - VĨNH HỮU để Nhi liên lạc và tìm hiểu thêm về HT Thích Viên Giác được không? Nhi sẻ cảm kích thật nhiều. Nhi đang sống ở Hoa Kỳ nên không đến chùa thăm viếng được. Mong là sẻ cò cơ hội trong thời gian tới đây.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/12/2025(Xem: 2552)
RỒI ta xả chấp giữa dòng TRƯỚC phong ba đón rộp phồng hai vai MẮT nhìn giải thoát không hai NGỤC đen trí trá bi hài nắm cơm TÙ gông không khởi oán hờn THÂN gầy tắm pháp bôi trơn nhạc thiền BÉ lòng chứa cả tam thiên BỎNG da chưa thấm tháp phiền trược đau
19/12/2025(Xem: 2265)
Trong ngọn nến lung linh Hồn ai theo gió lướt về đây Theo khói nhang, lời kinh nguyện Hệ lụy đã tàn bay Bởi chiến tranh, bạo động Bởi dịch bệnh thiên tai Bởi chết oan tức tưởi không lời
18/12/2025(Xem: 2782)
Đại tường tưởng niệm bậc chân nhân Duy thức thâm uyên chí xuất trần Chẳng ngại gian lao hành nguyện sấm Không màng khổ lụy trải nguyền âm Quê nhà đạo mạch khơi nguồn ấn Đất khách thiền hà mở suối tâm Thạch trụ tòng lâm gương đức sáng Thắng Hoan Hoà Thượng rạng ngời Xuân
18/12/2025(Xem: 2114)
Quặn lòng trở lại đảo quê nhà Cây bàng cổ thụ vẫn chưa già Tuổi đời mình nhìn lên tóc trắng Mẹ theo về thành hũ tro ma. Côn Đảo quê xưa thuở ấu thời Trong ngủ mơ thấy cả cuộc đời Có mẹ có cha cùng em nhỏ Giờ còn ai nữa để cúng mời.
10/12/2025(Xem: 2984)
Hạnh phúc của tuổi trẻ thường nằm ở hy vọng ! Hạnh phúc của tuổi hoàng hôn, lại mang đầy sự tri ân Nếu đời là cánh đồng bạt ngàn mênh mông Thì mỗi cuộc gặp gỡ, giống như mỗi nhánh lúa vàng rộ chín!
04/12/2025(Xem: 3200)
Có những người thầy không đứng trước ta, giảng giải thế nào là rèn luyện ! Mà đi bên cạnh ta như một ngọn đèn trầm, Tỏa hương lặng lẽ, dẫn đường theo cách âm thầm Người thầy ấy biết rằng con đường hạnh phúc không thể trao cho nhau bằng lời dạy, mà bằng sự hiện diện,
04/12/2025(Xem: 3405)
(Qua tác phẩm “The Art of Happiness in a trouble world”– Đức Đạt Lai Lạt Ma & Howard Cutler. Và những tư tưởng của các bậc hiền triết Đông-Tây ) (Trân trọng kính dâng tặng những vị Thầy tâm linh và đặc biệt riêng gửi đến TT. Thích Nguyên Tạng nhân dịp sinh nhật lần thứ 59 vào ngày 5/12/2025 ) Hạnh phúc — trong cái nhìn tâm linh — không phải là một điểm đến để nắm bắt, mà là sự khai mở dần dần của tâm thức. Nó giống một buổi bình minh: ánh sáng không bừng lên ngay tức khắc, mà lan từ từ, dịu dàng, đánh thức từng mảng tối trong lòng người.
02/12/2025(Xem: 3336)
( Cảm tác từ tác phẩm “ The Unbearable Lightness of Being” nổi tiếng nhất của Milan Kundera viết năm 1982 và xuất bản lần đầu tiên năm 1984 tại Pháp. Bản tiếng Việt “ Đời Nhẹ Khôn Kham “do dịch giả Trịnh Y Thư dịch từ bản tiếng Anh (The Unbearable Lightness of Being của Michael Henry Heim) xuất bản năm 2002 tại Hoa Kỳ. “ Đời Nhẹ khôn kham" lấy bối cảnh chủ yếu ở Praha trong những năm 60-70, tiểu thuyết đã mô tả đời sống của tầng lớp nghệ sỹ và trí thức của xã hội Czech đương thời, cùng với đó là gợi ra những vấn đề triết học căn cốt và sâu sắc. Hơn thế nữa tác phẩm này dạy chúng ta về sự nhẹ nhàng và nặng nề trong cuộc đời, về ý nghĩa của tự do cá nhân và trách nhiệm, và cách đối mặt với sự ngẫu nhiên của số phận.
02/12/2025(Xem: 2058)
Bạn ơi, Muốn sống hạnh phúc thì xin bạn: Đừng đem chuyện hàng xóm vào gia đình. Đừng đem chuyện đường phố vào nhà. Đừng đem chuyện cộng đồng vào những bữa cơm. Đừng đem chuyện của thế giới vào buồng ngủ.
01/12/2025(Xem: 2725)
Việt Nam tội lắm Miền Trung Hàng năm vẫn chịu bão bùng mưa rơi Thiên tai lũ lụt khắp nơi Người dân chiếu đất màn trời tang thương Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người chung dòng giống xin thương nhau cùng Tịnh tài tịnh vật góp chung Giúp người lâm cảnh não nùng thê lương Biết bao nhiêu cảnh đoạn trường Cửa nhà tan tác, người thương lìa trần Ít nhiều xin góp đỡ đần Cho người đói lạnh, rất cần lắm thay.