- Chén Trà Tào Khê (thơ)

12/07/201412:57(Xem: 45616)
- Chén Trà Tào Khê (thơ)


CHÉN TRÀ TÀO KHÊ

(Cảm tác sau khi bài giảng
của TT Nguyên Tạng tại Trường Hạ Quảng Đức nói về chén trà Tào Khê)



Việc đời buông xả còn vương,

Khóa tu chẳng kịp theo chơn mọi người.

Đêm đêm dưới ánh đèn mờ,

Mở trang Quảng Đức nghe thời giảng Kinh.

AN CƯ ý nghĩa thâm tình,

An dân , an nước, thái bình lân bang.

Hướng về Lục Tổ Huệ Năng,

Kim Cang nghe thoáng, tìm đàng xuất gia.

Huỳnh Mai Ngũ Tổ đâu xa,

Kim Cang thuyết giảng, canh ba độ đường,

Hãy nương những chỗ không nương,

Tâm hoàn thanh tịnh, nào vương não phiền.

Chợt Ngài đại ngộ hiển nhiên,

Ai ngờ tự tánh triền miên an bình.

Vô sanh, vô diệt , thinh thinh,

Lại sanh muôn Pháp tâm linh nhiệm mầu.

Giúp đời giải thoát, lạc an,

Ngài mang Y Bát, vượt ngàn, xuôi Nam.

Mười lăm năm quá nhọc nhằn,

Đến thời đắc Tổ, thuyên dần Thiều Quan.

Song Phong, ngọn núi, bạt ngàn,

Tào Khê nước chảy lượn quanh núi rừng.

Hoa Nam Tự ở lưng chừng,

Tào Khê nước ngọt thấm từng tim da.

Thêm trà gốc Tổ Đạt Ma,

Chén trà thơm ngọt danh gia tìm về.

Độ hàng Phật Tử còn mê,

Sớm mà giác ngộ không thì kịp đâu.

Xiển dương ĐỐN Ngộ nhiệm mầu,

Pháp tu chứng đắc chẳng cầu xa xôi.

Ngài đà viên tịch lâu rồi,

Nhục thân còn đó cho đời noi gương.

CHÂN PHÚC HÀ (SYDNEY)

Chen_Tra_Tao_Khe_20
















(Xem bài viết về chén trà Trà Khê)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/04/2014(Xem: 19919)
Kính mừng Đại lễ VESAK Phật lịch 2558 Do Tổ chức Văn Hóa Giáo Dục Liên Hiệp Quốc tỗ chức tại Việt Nam Ngày Phật Đản ngày người được sống Từng phút giây thanh tịnh bình yên Từng hơi thở trời xanh cao rộng Tự thân mình giới thể trang nghiêm.
13/04/2014(Xem: 26829)
Hôm nay Phật Đản trở về Ta Bà hiện cảnh hoàng quê năm nào Từ trời Đâu Xuất trên cao Hộ Minh Bồ Tát nguyện vào Phật (ứng) thân. Ma Gia mộng ứng điềm lành Voi ngà sáu chiếc hóa sanh Thánh hiền Bảy đóa sen quý kim liên Ưu đàm một đóa Thánh hiền Đản sanh.
13/04/2014(Xem: 15150)
Hai chiếc bình trống rỗng Một đậy nắp một không Thả hai bình xuống biển Một chiếc nổi bềnh bồng
13/04/2014(Xem: 13955)
Có khi nào gió hỏi Gió thổi từ phương nao Có khi nào đá hỏi Đá có tự thuở nào Có khi nào sông hỏi Nước từ đâu chảy về Có khi nào trăng hỏi Đêm sao dài lê thê
12/04/2014(Xem: 45967)
Một là tội tạo từ xưa Nặng thì thành nhẹ, nhẹ trừ tiêu luôn Hai là được các thiện thần Dẹp tan hoạn nạn tai ương ngục tù Ba là tránh mọi hận thù Giải oan đời trước cũng như đời này Bốn là hùm rắn có vây
09/04/2014(Xem: 15698)
Có Xuân nào, Không mai vàng trước ngõ Không câu đối giao mùa, Tỉnh thức – Xuân từ đó… Giọt sương trong – Phật Thừa !
31/03/2014(Xem: 16313)
đám mây đi qua dòng sông tôi mất bóng và tôi vỡ ra dập dềnh trôi xác ma quá khứ tế bào óc tim tóe lên ánh lửa bập bùng bên này leo lét bên kia bít bùng thế giới đa tri đường ngược đường xiên
29/03/2014(Xem: 14624)
Đi tu chẳng phải trốn đời Đi tu cốt để chuyển dời tánh, tâm. Đi tu chẳng mộ tiếng tăm Đi tu chỉ để âm thầm Độ, Tha (*) Đi tu thức giấc Nam Kha Đi tu để thoát Ái hà mênh mông .
29/03/2014(Xem: 24760)
Trời đất mênh mang sương khói, một thời thơ trẻ dại, bàng bạc nắng quái u buồn nơi quê nhà giữa hai đầu biển núi lung linh. Sinh năm 1952 ở Quán Rường, Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam, một chốn miền “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” ấy, Nguyễn Lương Vỵ lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học. Từ thuở nhỏ vốn bẩm sinh có năng khiếu làm thơ, đặc biệt được ông nội ( nguyên là một nhà Nho, có thời kỳ làm chánh tổng ) trực tiếp truyền dạy các loại thơ tứ tuyệt, Đường luật, nên biết mần thơ ngay từ lúc 12, 13 tuổi, thuở còn chạy rông chơi bên mấy cổ tháp rêu phong Chiên Đàn, cạnh dòng sông Tam Kỳ và bãi biển Tam Thanh xanh biếc mộng.
26/03/2014(Xem: 14766)
Sen kinh Phật Loài hoa tiết hạnh dị thường Đêm đêm giữ ngọc, gìn hương cho đời Trinh nguyên lay động đất trời Thơm câu kinh Phật, ngát lời ca dao.