Bagan và hương huyền sử (thơ)

01/12/201010:56(Xem: 16514)
Bagan và hương huyền sử (thơ)

Bagan - chùa tháp cổ sương

Có con trăng dệt con đường sử kinh

Ngọn đèn pháp bảo lung linh

Dấu son một thuở phục sinh đạo vàng

Ôi! Một thời dân tộc Môn qua đây

Đã liệt liệt oanh oanh

chép sử vàng lên bốn mươi ngàn tòa bảo tháp

Một cõi Đông dương

xây dựng kinh đô chánh pháp

Để ngàn sau...

để ngàn sau còn thơm mãi một mùi hương!

Ôi! Mùi hương nhập thế dị thường

Đã trải dài theo dấu chân

theo vết xe thổ mộ

Có con ngựa già còng lưng kham khổ

Và người phu xe

mà mái đầu đã bạc trắng đức tin

Ôi! Mùi hương của nhiệt huyết, của trái tim

Trộn lẫn mùi hương của tâm linh tôn giáo

Là công trình muôn đời của thăng hoa cảm xúc

Mà ấn ngọc, triện son

năm tháng chẳng mờ phai

Ôi! Có phải đây là thời

mà con sư tử vươn vai

Cất tiếng hống uy linh tràn trề sinh lực

Từ vạn dặm xa

kế thừa vinh quang A-Dục

Để huyền sử về một địa danh

bất diệt đến ngàn sau

Tôi cúi đầu xuống

Lắng nghe giữa hư vô

một mùi hương huyền diệu, sâu mầu

Thấm đẫm trên những cọng rêu xanh

Trên những cành cây khô

Trên những phù điêu, hoa văn chạm trổ

Tôi còn nghe

linh hồn cựa mình trong những viên gạch vỡ

Len vào sinh hoạt đời thường

thiên hạ thế gian tâm

Ôi! Tháp cổ Bagan!

Huyền sử Bagan!

Như một tiếng hú tận thâm lâm

Như một ngôn ngữ xa xăm

Nói về lẽ thăng trầm, hưng phế

Nói về chiến tranh, bạo quyền

và niềm đau khổ đế

Vì sự tham lam, sân hận của con người

Nó còn nói về sự thật trần khơi

Thần hủy diệt, thần bảo tồn

đã sát cánh chung vai

trong trò chơi quá nhiều thách đố

Để bi khốn thay

thân phận con người

cứ miệt mài xây tổ

Lẽ hoại thành nghe lòng mắt cay cay!

Lẽ hoại thành - khói tụ, tan mây...

Ôi! Một thời dân tộc Môn qua đây

Họ là một loài người tiến hóa bậc cao

Họ đến như làn mây lành

khoác tâm hồn nắng ấm

Rồi họ ra đi

mà dấu chân còn lấp lánh bụi sương

Để bây giờ

ngàn năm sau

bất diệt một mùi hương!

Ôi! Tôi đã đi thăm xứ xứ Bagan

Nơi đây con người

vận xà-rông xám chàm đất mục

Thân xác khô gầy gập lưng lạy Phật

Những tràng hoa lài,

hoa sứ tươi thơm

Chư sư khất thực qua ngày

bình bát toàn cơm

Cơ cực bữa ăn chan mùi khổ hạnh

Những cô gái bôi má bột cây

để gìn da giữ sắc

Còn giữ nụ cười đôn hậu ngây thơ

Những gã trung niên chuông gõ điện thờ

Mắt hấp háy nhìn hòm công đức

Những đứa trẻ cõi còm,

đói lòng kiếm xin vài "chạt"

Đôi mắt xanh trong!

Bi cảm tình người!

Ôi! Nhưng mà sao cách biệt một trời!

Mà phú quý

chỉ để dành cho người quý tộc?

Mà giàu sang

chỉ để dành cho giai cấp chiến sĩ?

Và mọi tiện nghi, xa hoa

ưu đãi giới thương buôn?

Còn thủ-đà-la, chiên-đà-la

thì sống trong cảnh bần cùng

thiếu áo, thiếu cơm

Thiếu cả những nhu cầu tối thiểu?

Ôi! Tôi đã ngồi rất lâu

để trầm tư mặc tưởng

Để nghĩ về những ngôi chùa tháp nguy nga

Để nghĩ về những công trình tôn giáo

như cung điện hoàng gia

Mà không hiểu lưỡng nguyên giá trị

Mà không hiểu sự cân phân tâm vật

Nơi dân tộc lạ kỳ này

tín ngưỡng duy linh!

Ôi! Tôi đã đi thăm cả một cõi tâm kinh

Mà cảm nghe cây lá bên đường

cũng sáng lên hoa chữ

Những nét chạm khắc rêu đen

Những con rồng giấu mình trong những bia đá vỡ

Nơi những tòa gạch nâu già

tuổi tác tuế sương!

Ôi! Huyền sử Bagan!

Bốn mươi ngàn tháp cổ Bagan!

Vi diệu mùi hương

Hương công đức

Hương tín tâm

Hương thâm u mật độ

Cùng hương tình, hương cảnh

của đất nước dễ thương nầy!

Ôi!

Cảm xúc bài thơ

chỉ như một thoáng khói mây

Xin tri tạ một lần tao ngộ

Ta hẹn ngươi, Bagan,

trên dặm về cổ độ

Nơi cõi Phật, lòng mình

lặng lẽ, vô ngôn!

Vẫy tay chào

chùa tháp dập dờn hương!

Myanmarlife hotel

Đêm 3/12/2008.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2026(Xem: 3055)
Hôm nay Tháng Chạp hăm ba Táo quân khắp chốn gần xa về chầu Bớ khanh Bắc Đẩu Nam Tào Mau mau mở máy bắt đầu online Táo Quân dưới đó là ai Trẫm đây miễn lễ, trình ngay phương nào ? Trong năm Ất Tỵ ra sao Mà ta bị réo điên đầu điếc tai.
02/02/2026(Xem: 4062)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 4377)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 3475)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 3525)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 3766)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 3251)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 3489)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 2897)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 3893)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng