Mười bài kệ chăn trâu

27/03/201317:59(Xem: 16895)
Mười bài kệ chăn trâu

Fieldskyline

Mười Bài Kệ Chăn Trâu

Thích Quảng Độ dịch


Tìm Trâu

Nước biếc non xanh nhuộm một mầu
Um tùm lối cỏ biết tìm đâu ?
Hơi tàn chân mỏi hồn hiu quạnh
Chiều xuống ve kêu gợi nỗi sầu

Thấy Dấu Chân Trâu

Ven suối bìa rừng in dấu chân
Hỏi tin hoa lá đứng tần ngần
Trời xa ráng nhạt mờ sương khói
Núi thẳm rừng sâu một chiếc thân

Thoáng Thấy Bóng Trâu

Trên cành thỏ thẻ tiếng hoàng anh
Gió nhẹ trời quang dặm liễu xanh
Thấp thoáng đâu đây hình bóng cũ
Mơ màng giấc mộng vẫn chưa thành

Đã Bắt Được Trâu

Giờ đây trâu đã dắt nơi tay
Cố giữ làm sao khỏi tuột dây
Có lúc như trèo lên đỉnh núi
Nhưng rồi chợt thấy ngủ trong mây !

Chăn Trâu

Sợ quen đường cũ lại đi hoang
Từng phút từng giây phải buộc ràng
Đến một ngày kia nên thuần thục
Tha hồ trời rộng bước thênh thang

Cưỡi Trâu Về Nhà

Cưỡi trâu lững thững trở về nhà
Tiếng địch chiều thu tiễn ráng xa
Bát ngát bốn bề hương trầm tỏa
Tri âm nào biết cõi lòng ta

Quên Trâu Còn Người

Cưỡi trâu giờ đã đến nhà rồi
Roi gác trâu buông ngủ thảnh thơi
Rực rỡ vừng hồng còn dệt mộng
Trong gian nhà cỏ một mình thôi

Quên Người Và Trâu

Trâu người nhà cỏ thảy đều không
Lồng lộng trời xanh tin chẳng thông
Sợi tuyết trên lò đang rực lửa
Đến được đấy rồi hợp tổ tông

Về Nguồn

Tìm lối quay về những uổng công
Nào biết xưa nay lí vốn không
Trước mắt bao la nhưng chẳng thấy
Hoa cười tươi thắm nước mênh mông

Thõng Tay Vào Chợ

Mình trần lem luốc cười ha ha
Ngất ngưỡng rong chơi chốn chợ xa
Phép lạ thần tiên không màng tới
Cây cỗi cành khô khiến trổ hoa !

Thích Quảng Độ dịch
Sài Gòn, mùng 1 tết Kỉ mão
(Ngày 16.02.1999)

---o0o---


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/10/2016(Xem: 12984)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10609)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14826)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17407)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12719)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 10217)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 12653)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 12290)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .
03/10/2016(Xem: 13204)
Ta đứng giữa rừng thu hắt hiu Sợi thu vàng vọt rớt trong chiều Hoàng hôn phủ gót chân hoang dã Nghe nàng thu chết giữa cô liêu
03/10/2016(Xem: 11978)
Đời người trong hơi thở Ra vào từng phút giây Thở ra mà không lại Là vĩnh biệt từ đây .