Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương 4: Truyền giới thọ giới

22/05/201312:10(Xem: 6119)
Chương 4: Truyền giới thọ giới

Luật Tỳ Kheo

Chương 4: Truyền giới thọ giới

Hòa thượng Thích Trí Thủ

Nguồn: Hòa thượng Thích Trí Thủ dịch

(II)
TIẾT MỘT
NI XUẤT GIA


I. NI XIN NUÔI CHÚNG

Cũng như tỳ kheo tăng, khi muốn độ người xuất gia cho đến truyền giới cụ túc, phải hội đủ các đức tính của Hòa thượng, và phải được Tăng tác pháp yết ma cho phép. Các nguyên tắc này cũng áp dụng đồng nhất cho tỳ kheo ni. Chỉ có điều khác biệt là, trong khi tỳ kheo tăng phải đủ mười tuổi hạ mới được phép nuôi chúng và truyền giới cụ túc, thì tỳ kheo ni phải đầy đủ mười hai hạ. Nếu không được ni chúng tác pháp yết ma cho nuôi chúng, mà tỳ kheo ni nào tự ý thâu nhận đồ đệ cho thọ sa di cho đến cụ túc thảy đều phạm ba dật đề.([1])

Dù tỳ kheo ni đã đủ mười hai hạ, nhưng không được hằng năm độ người cho thọ cụ túc, mà phải cách năm. Như vậy, cứ mỗi năm chỉ được cho một đệ tử thọ thức xoa ma na, và hai năm cho một đệ tử thọ cụ túc.([2])

Tỳ kheo ni nào sau khi ni tăng đã yết ma cho nuôi chúng, nhưng sau đó ni tăng nhận thấy vị ấy thiếu sót bổn phận dạy dỗ, bèn tác pháp yết ma không cho nuôi chúng nữa, mà nếu vẫn cứ tiếp tục nuôi chúng thì phạm ba dật đề.

Văn yết ma cho tỳ kheo ni nuôi chúng:

Tỳ kheo ni đã đủ các đức tính được phép thâu nhận đệ tử, phải đến trước ni tăng xin yết ma cho nuôi chúng. Sau khi đảnh lễ ni tăng, tác bạch:

Đại đức tăng, xin lắng nghe. con tỳ kheo ni… cầu xin ni tăng cho phép độ người xuất gia thọ cụ túc. Ngưỡng mong tăng cho phép con, là tỳ kheo ni… được độ người thọ cụ túc. (ba lần)

Ni chúng nhận xét, nếu thấy tỳ kheo ni này chưa đủ khả năng dạy dỗ người, nên ngăn rằng: "Thôi đi, đại tỷ không nên độ người." Trái lại, nếu nhận xét thấy đủ khả năng, thì tác bạch nhị yết ma cho phép. Vị tỳ kheo ni yết ma bạch:

Đại đức tăng, xin lắng nghe. tỳ kheo ni… nay xin phép Tăng được độ người thọ giới cụ túc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho phép tỳ kheo ni… độ người thọ giới cụ túc. Đây là lời tác bạch.

Đại đức tăng, xin lắng nghe. tỳ kheo ni… nay xin phép Tăng được độ người thọ giới cụ túc. Trưởng lão ni nào chấp thuận, nay cho phép tỳ kheo ni… độ người thọ giới cụ túc, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.

Tăng đã chấp thuận cho tỳ kheo ni… độ người thọ giới cụ túc, vì im lăng. Tôi ghi nhận như vậy.

II. SA DI NI VÀ NGOẠI ĐẠO CỘNG TRÚ

Ý nghĩa của việc thọ sa di ni và ngoại đạo cộng trú cũng giống như những điều đã được nói trong phần thuộc tăng ở trên. Các nghi thức tác pháp yết ma cũng giống nhau, duy thêm chữ "ni" vào những từ xưng hô cần thiết để phân biệt.

III. THỌ THỨC XOA MA NA

Tiếng Phạn nói siksamànà, Hán âm là thức xoa ma na hay thức xoa ma na ni, và dịch là chánh học, nghĩa là người nữ đang học tập các học xứ của tỳ kheo ni.

Nguyên tắc cơ bản là sa di ni trước khi thọ cụ túc để thành tỳ kheo ni phải có hai năm học giới. học giới ở đây là học tập tất cả các học xứ của tỳ kheo ni, từ tám pháp ba la di cho đến các pháp chúng học. Chỉ được phép học tập các giới tướng và các hình thái phạm hay không phạm, chứ không được nghe tỳ kheo ni thuyết giới. Trong các học xứ này, có sáu điều được trích là sáu học pháp đặc biệt. Sáu học pháp này gồm:

1. Không sát sinh;
2. Không trộm cắp;
3. Không dâm dục;
4. Không nói dối;
5. Không uống rượu;
6. Không ăn phi thời.([3])

Bốn học pháp đầu được phân biệt thành hai trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ nhất, trường hợp nghiêm trọng, tương đương với bốn ba la di đầu của tỳ kheo ni, nếu phạm phải bị diệt tẩn. Ngoài ra, nếu giết hại súc vật, ăn cắp dưới mức tội ba la di, bốn ba la di cuối của tỳ kheo ni, nói dối dưới mức tội ba la di, uống rượu và ăn phi thời, nếu phạm các điều này mà bị phát hiện, hay tự mình phát lồ trong ngày nào, thì ngay ngày đó phải thọ lại từ đầu, và lấy đây làm mốc cho hai năm học giới, còn thời gian trước khi phạm hoàn toàn xóa bỏ.

Ngoài sáu học pháp chính trên, còn có các học pháp phụ khác gọi là mười tám tùy pháp. Chi tiết các điều này, hãy xem trong ni luật, ở đây không cần thiết phải nêu rõ.

Nói vắn tắt, về sáu học pháp, trừ những trường hợp thuộc vào bốn ba la di đầu của luật ni thì bị diệt tẩn, còn lại nếu phạm thì bị coi là khuyết giới và phải thọ học giới lại từ đầu. Ngoài ra, các học xứ của ni, từ tăng tàn trở xuống, nếu vi phạm, thảy đều được phép sám hối.

Về hạn tuổi để thọ thức xoa ma na, theo luật Tứ phần ([4]) mà văn Hán dịch có thể nói như sau: "Thập tuế tằng giá, thập bát đồng nữ, các nhị tuế học giới." Về câu văn: Thập bát đồng nữ thì ý nghĩa đã rõ ràng. Đó là đồng nữ mười tám tuổi, tức con gái chưa chồng, đến tuổi mười tám. Nhưng câu văn: Thập tuế tằng giá gây nên một số khó khăn. Không phải vì câu văn tối. Vì theo nghĩa đen, rõ ràng nói: mười tuổi đã có chồng. Nhưng một số các luật sư ở nước ta, căn cứ theo phong tục hôn nhân, cho rằng không thể có trường hợp con gái mười tuổi đã có chồng. Cho nên câu văn dịch của Tứ phần được hiểu là người nữ đã có chồng, nhưng đã thôi chồng mười năm, sau khi đủ mười năm như vậy mới được phép thọ hai năm học giới. ([5])

Căn cứ theo các văn dịch trong các Quảng luật, luật Ngũ phần nói: "Thập nhị tuế dĩ giá nữ" và nói thêm: "nhi nữ ngu si, vô tri, bất năng học giới." Theo nội dung từng đoạn cần phải hiểu câu văn này nói rằng: con gái mười hai tuổi đã có chồng, nhưng ngu si, không hiểu biết, không kham học giới.

Luật Ma ha tăng kỳ nói: " thích tha phụ thập nhị vũ", nghĩa đen là: mười hai tuổi đã làm vợ người khác. nói là vũ (mùa mưa) thay vì nói là niên (năm) hay tuế (tuổi), vì theo lịch pháp Ấn độ tính năm và tuổi theo mùa mưa. Trong đoạn nói về học giới nữ này, luật ma ha tăng kỳ có giải thích đại cương rằng: Phật trú ở Xá vệ, lúc bấy giờ có những người nữ thuộc dòng họ Thích, dòng họ Câu lê, dòng họ Ma la, trước đó đã có chồng, đã từng kham nhẫn các sự khổ nhọc. Đại Ái Đạo Cù Đàm Di bạch Phật: Người nữ đã có chồng mà chưa đủ hai mượi tuổi, có thể thọ cụ túc được không? Phật cho phép được. Nhưng người nữ tám hay chín tuổi, dù đã có chồng (tằng giá bát tuế cửu tuế nữ) thì không được. Và giải thích sau đây cần nhấn mạnh: với số tuổi này, còn quá nhỏ, quá yếu đuối, không kham nổi sự khổ (văn Hán nói: thái tiểu, nhuyển nhược bất kham khổ sự). Theo giải thích như vậy, rõ ràng câu văn: thích tha phụ thập nhị vũ, chính xác phải hiểu là: mười hai tuổi đã làm vợ người khác.

Về vấn đề này, luật Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bí sô ni tỳ nại gia nói: sau khi dòng họ Thích bị vua Tỳ Lưu Ly tàn sát, một số thích nữ không nơi nương tựa, bèn được cho xuất gia. Những người này cầu thọ cụ túc. Nhưng các trưởng lão ni nói, Phật chế, chưa đủ hai mươi tuổi, không được phép thọ cụ túc, vì chưa đủ khả năng để phụng sự Hòa thượng, A xà lê ni. Các người nữ này nói: "Chúng con khi tại gia đã từng thờ chồng, các doanh nghiệp còn có thể đảm đương được, huống gì nay là sự hầu hạ Hòa thượng, A xà le ni, mà không làm nổi." Các trưởng lão ni bạch Phật. Phật cho phép, người nữ đã có chồng đủ 12 tuổi (Hán: tằng giá nữ, niên mãn thập nhị) cho hai năm học giới rồi cho thọ cụ túc.

Theo các quảng luật được dẫn trên, duy chỉ Tứ phần nói là thập tuế tằng giá, còn theo các luật khác, phải nói là thập nhị tuế tằng giá. Số 10 hay số 12, là theo phong tục mỗi địa phương quan niệm về số tuổi thấp nhất cho con gái trưởng thành. Tuy vậy, về nội dung giải thích tại sao có con số tuổi này, các luật đại khái nói như nhau: dưới số tuổi đó quá nhỏ, yếu đuối, còn ngu dại. Đây là số tuổi thấp nhất qui định sự trưởng thành về thể chất cũng như tinh thần của người nữ. Đương nhiên, sư qui định như vậy bị hạn chế theo phong tục địa phương. Ở nước ta, con gái ít nhất 17 tuổi mới được coi là thành niên.

Như vậy, nếu giải thích rằng, thập tuế tằng giá trong văn Tứ phần chỉ cho người nữ này không thể được coi là quá nhỏ, yếu đuối, còn ngu dại như đã thấy từ các dẫn chứng trong các Quảng luật trên.

Tuy nhiên, ở nước ta từ xưa dù có tục tảo hôn, nhưng không với số tuổi quá nhỏ như vậy. Ngày nay thì điều đó hoàn toàn không xảy ra nữa. Vả lại, tuổi trưởng thành được qui định theo luật pháp từ xưa là 17 tuổi. Nói tóm lại nếu là con gái chưa chồng thì tối thiểu phải 18 tuổi mới được phép thọ hai năm học giới. Nếu đã có chồng, không hạn chế số tuổi, trừ khi tuổi quá nhỏ, và nhỏ như thế nào thì tùy theo phong tục địa phương.

Về hai năm học giới, duy nhất chỉ có luật Thập tụng mới nói rằng sở dĩ như vậy để tránh trường hợp có thai mà không biết.([6]) Nếu theo tinh thần các luật khác, như đã dẫn thì hai năm như vậy là cần thiết để học tập đầy đủ các học xứ của tỳ kheo ni, và là thời gian cần thiết để kiểm nghiệm sự hộ trì sáu học pháp đặc biệt. Sáu học pháp này, theo danh nghĩa, vốn là trong mười giới của sa di ni. Nhưng đây không phải trích ra sáu. Bởi vì sự thọ trì không giống như trường hợp sa di ni, ở chỗ, nếu vi phạm thì phải thọ lại hai năm học giới khác, cho đến khi nào liên tục trong hai năm không vi phạm điều nào trong sáu điều mới được thọ cụ túc. Đương nhiên trừ các trường hợp nghiêm trọng tương đương ba la di.

Văn thọ thức xoa ma na:

Trước khi thọ thức xoa, phải cho thọ sa di ni. Sa di ni đến trước tỳ kheo ni tăng, đảnh lễ và bạch:

Đại đức tăng rủ lòng thương tưởng. Con sa di ni… nay thỉnh cầu tăng cho hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… ngưỡng mong Tăng cho con hai năm học giới. Cúi xin thương tưởng. (nói ba lần)

Sau đó, lui ra khỏi giới trường, đứng ở chỗ có thể thấy nhưng không thể nghe. Bấy giờ Tăng tác pháp yết ma cho học giới. vị tỳ kheo ni yết ma bạch:

Đại đức tăng, xin lắng nghe. sa di ni… kia nay thỉnh cầu Tăng cho hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… Nếu thời gian thích hợp đối với tăng, tăng nay chấp thuận cho sa di ni… hai năm học giới theo Hòa thượng ni… Đây là lời tác bạch. Đại đức ni tăng, xin lắng nghe. sa di ni… kia thỉnh cầu Tăng cho hai năm học giới theo Hòa thượng ni là…Tăng nay cho sa di ni… hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… Đại đức nào chấp thuận Tăng cho sa di ni… hai năm học giới với Hòa thượng ni là… thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói. đây là yết ma lần thứ nhất.

Đại đức ni tăng, xin lắng nghe… (cho đến)… đây là yết ma lần thứ hai.

(…như trên, cho đến….) Đây là yết ma lần thứ ba.

Tăng đã chấp thuận cho sa di ni… hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… vì đã im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Bạch tứ yết ma xong, cho gọi giới tử vào giới trường để truyền sáu học pháp. Giới sư nói: (gọi pháp danh giới tử)

… Hãy lắng nghe. Đức như lai, bậc chí chân đẳng chính giác, đã thiết lập, sáu học pháp.

- Thứ nhất. không được phạm bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục. Nếu thức xoa ma na hành pháp dâm dục, không còn là thức xoa ma na, không phải là Thích nữ nữa. Nếu đụng chạm đến thân thể một người nam có tâm nhiễm ô, giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm

- Thứ hai, không được cố ý lấy của không cho, nhẫn đến một cọng cỏ. Nếu thức xoa ma na lấy trộm năm tiền, hay vật tương đương năm tiền trở lên, tự mình lấy hay khiến người lấy, tự mình phá hoặc khiến người phá, tự mình chặt hoặc khiến người chặt, hoặc đốt, hoặc chôn, hoặc hủy mất màu sắc, thì không còn là thức xoa ma na, không phải là thích nữ nữa. Nếu lấy trộm dưới năm tiền hoặc vật tương đương dưới năm tiền, giới bị khuyết phải thọ lại, trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.

- Thứ ba, không được cố ý giết hại mạng sống nhẫn đến con kiến. Nếu thức xoa ma na cố ý giết người, tự tay mình cầm dao giết, hay cầm dao đưa cho người khác giết, hoặc xúi dục người tự sát, ca ngợi để người tự sát, đưa thuốc độc cho người, làm trụy thai, hoặc bằng chú thuật mà giết hoặc tự mình đặt phương tiện giết hay khiến người khác làm; như thế không còn là thức xoa ma na, không phải là Thích nữ nữa. Nếu cố ý giết hại mạng sống của loài vật, loài không biết biến hóa, thì giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.

- Thứ tư, không được cố ý nói dối, nhẫn đến nói dối mà chơi. Nếu thức xoa ma na tự mình không thật sự chứng đắc mà nói rằng: "Tôi đã chứng đắc pháp thượng nhơn, đắc thiền, đắc giải thoát, đắc định, đắc bốn không định, đắc quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, trời, rồng, qủy, thần đến cúng dường tôi." Nói vậy, không còn là thức xoa ma na, không phải là Thích nữ nữa. Nếu ở trong chúng mà cố ý nói dối, giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.

- Thứ năm, không được ăn phi thời, nếu thức xoa ma na ăn phi thời, giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.

- Thứ sáu, không được uống rượu. Nếu thức xoa ma na uống rượu, giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.

---------------------------

TIẾT HAI

THỌ TỲ KHEO NI GIỚI

Sa di ni đã thọ học giới đủ hai năm, thanh tịnh, được pháp thọ giới cụ túc. Trước khi truyền giới cụ túc, Hòa thượng ni phải được Tăng tác pháp yết ma cho nuôi chúng như đã nói. Ni thọ cụ túc trước hai bộ tăng gồm hai mươi vị (mười tỳ kheo và mười tỳ kheo ni); nếu là ở biên địa, trước hai bộ Tăng gồm mười vị (năm tỳ kheo và năm tỳ kheo ni). Việc truyền thọ như vậy được chia làm hai giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất, tác pháp yết ma giữa ni bộ, gọi là bản pháp yết ma và sau đó đến giữa đại Tăng tác pháp yết ma lần nữa, gọi là chính pháp yết ma.

I. BẢN BỘ YẾT MA

Trong quá trình tác pháp yết ma giữa ni bộ, tức bản bộ yết ma (hoặc bản pháp yết ma) gồm tám tiết mục sau đây:

a) Thỉnh hòa thượng ni.
b) Yết ma sai giáo thọ ni.
c) Giáo thọ ni hướng dẫn giới tử về các già nạn.
d) Đơn bạch gọi giới tử đến trước Tăng.
e) Giới tử bạch Tăng xin giới.
f) Đơn bạch chính thức hỏi các già nạn trước tăng.
g) Chính thức hỏi các già nạn.
h) Bạch yết ma trao giới cụ túc.

Văn bạch yết ma cũng giống như trường hợp thọ giới ty kheo, xem chi tiết ở các đoạn của chương trước, duy chỉ thêm tiếng "ni" sau các từ xưng hô cần thiết. Riêng các già nạn trên đại thể tuy tương đồng, nhưng có một vài chi tiết khác biệt cần lưu ý như sau:

1. Già nạn thứ nhất của tỳ kheo ni được nói là: "Ngươi đã từng thọ tỳ kheo ni chưa?" Già nạn này khác với già nạn về phạm biên tội của tỳ kheo. Vì rằng, nếu người trước đó đã từng thọ tỳ kheo mà chưa phạm các trọng cấm và hoàn giới như pháp thì được phép xuất gia thọ cụ túc lại. Nhưng nếu người nữ đã từng thọ tỳ kheo ni, rồi hoàn tục, dù không phạm các trọng cấm và đã hoàn giới như pháp, theo luật chế, vẫn không được phép thọ cụ túc lại.([7])

2. Ni không có già nạn thứ hai của tỳ kheo. Tức trong khi còn là bạch y mà đã từng hành dục với người đã thọ giới cụ túc.

3. Tặc trú hay tặc tâm thọ giới, cũng giống như già nạn của tỳ kheo.

4. Phá nội ngoại đạo: ni không có già nạn này, vì nó đã được gồm trong già nạn thứ nhất.

5. Không phải là hoàng môn. Trong trường hợp già nạn của tỳ kheo là năm loại đàn ông bất lực. Ni không có trường hợp này, do đó không có già nạn này.

6. Năm tội nghịch giống như các già nạn của tỳ kheo.

7. Phá hòa hiệp tăng, một phần giống già nạn của tỳ kheo. Nhưng ni không có trường hợp phá pháp luân tăng, vì người nữ không thể tự xưng là Phật.

11 – 13. Phi nhân , súc sinh và nhị hình: giống như các già nạn của tỳ kheo.

Các già nạn nhỏ tiếp theo cũng giống như cửa tỳ kheo. Nhưng cuối cùng có thêm các trường hợp: hai đường (đại và tiều tiện) hợp một, đường đại tiểu tiện thường són.([8])

Tổng kết, các già nạn của tỳ kheo ni được hỏi như sau:

1. Ngươi đã từng là tỳ kheo ni chưa?
2. Có phải tặc tâm xuất gia không?
3. Có giết cha không?
4. Có giết mẹ không?
5. Có giết A la hán không?
6. Có gây thương tích Phật không?
7. Có phải là phi nhân không?
8. Có phải là súc sinh không?
9. Có phải là hai căn không?

- Pháp danh ngươi là gì?

- Hòa thượng ni của ngươi hiệu là ai?

- Tuổi đã đủ chưa?

- Y bát có đủ không?

- Cha mẹ phu chủ đã cho phép chưa?

- Có mắc nợ không?

- Có phải nô tỳ không?

- Có phải là quan viên tại chức không?

- Có thật là người nữ không?

- Người nữ có những bệnh sau đây: cùi hủi, ung thư, ghẻ lở, lao phổi, điên cuồng, hai căn, đường đại tiểu tiện hợp một, đường đại và tiểu tiện thường són, và huyết kinh thường xuyên chảy. Ngươi có các bệnh ấy không?

II. CHÍNH PHÁP YẾT MA

Sau khi ni tăng tác pháp bản bộ yết ma, ngay ngày hôm đó, cả mười giới sư ni hướng dẫn giới tử sang bên tỳ kheo tăng xin tác chánh pháp yết ma: không được phép để cách đêm.

Cũng nên nhắc lại rằng, sau khi bạch tứ yết ma là dứt phần bản bộ yết ma của tỳ kheo ni tăng. Các tiết mục khác như nói tám ba la di, bốn pháp sở y, và tám pháp tôn kỉnh, phải do tăng trong phần chánh pháp yết ma này.

Và thêm nữa, túc số của tỳ kheo tăng ở đây là mười vị, trong đó duy chỉ có một vị tỳ kheo làm vị yết ma, chứ không có Hòa thượng truyền giới. Các vị còn lại đều là tôn chứng cả.

Chính pháp yết ma được tiến hành như sau:

1. Thỉnh yết ma a xà lê

Vị tỳ kheo ni làm giới thọ sư hướng dẫn giới tử bạch thỉnh.

Đại đức rủ lòng thương tưởng, con thức xoa ma na pháp danh… nay thỉnh cầu Đại đức vì con làm yết ma a xà lê. Ngưỡng mong Đại đức vì con làm yết ma a xà lê, con nương nhờ đại đức mà được thọ giới cụ túc. Cúi xin thương tưởng con. (nói ba lần)

2. Giới tử ni tác bạch xin giới

Đại đức tăng rủ lòng thương tưởng, con thức xoa ma na pháp danh… theo Hòa thượng ni hiệu… cầu thọ cụ túc. Con thức xoa ma na… nay thỉnh cầu tăng cho thọ cụ túc với Hòa thương ni hiệu… ngưỡng mong đại đức Tăng đưa con lên bậc cao. Cúi xin thương tưởng con. (nói ba lần).

3. Bạch yết ma hỏi già nạn

Vị tỳ kheo yết ma bạch tăng để hỏi các già nạn.

Đại đức tăng xin lắng nghe. thức xoa ma ni pháp danh… nay theo Hòa thượng ni hiệu… cầu thọ cụ túc. Thức xoa ma na… này, nay thỉnh cầu Tăng cho thọ cụ túc với Hòa thượng ni… nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, tôi sẽ hỏi các già nạn. Đây là lời tác bạch.

4. Hỏi các già nạn

Thầy tỳ kheo yết ma hỏi giới tử ni các già nạn, như đã được hỏi giữa Tăng. Hỏi xong các già nạn này, thầy tỳ kheo yết ma lại hỏi giới tử ni tiếp:

- Ngươi đã học giới chưa?

- Con đã học giới.

- Học giới có thanh tịnh không?

- Thanh tịnh.

Tiếp theo thầy tỳ kheo yết ma lại hỏi các giới sư ni:

- Giới tử ni này đã học giới chưa?

Các giới sư ni đồng thanh đáp:

- Đã học giới.

Thầy yết ma hỏi:

- Học giới có thanh tịnh không?

Các giới sư ni đáp:

- Thanh tịnh.

5.Tăng bạch tứ yết ma truyền giới cụ túc

Tỳ kheo yết ma bạch:

Đại đức tăng, xin lắng nghe. Thức xoa ma na này theo Hòa thượng ni… cầu thọ cụ túc. Thức xoa ma na… này nay thỉnh cầu tăng thọ giới cụ túc theo Hòa thượng ni… Thức xoa ma na này… tự nói thanh tịnh, không có các già nạn, tuổi đã đủ, y bát có đủ, đã học giới thanh tịnh. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho thức xoa ma na… này thọ cụ túc, theo Hòa thương ni là… Đây là lời tác bạch.

Đại đức tăng xin lắng nghe. Thức xoa ma na… này theo Hòa thượng ni… cầu thọ cụ túc. Thức xoa ma na… này nay thỉnh cầu tăng thọ cụ túc theo Hòa thượng ni là… Thức xoa ma na… này tự nói thanh tịnh không có các già nạn, tuổi đã đủ, y bát có đủ, đã học giới thanh tịnh. Tăng nay cho thức xoa ma na… này thọ giới cụ túc theo Hòa thượng ni… các. Trưởng lão nào chấp thuận, nay Tăng cho thức xoa ma na… này thọ giới cụ túc theo Hòa thượng ni… thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói. Đây là yết ma lần thứ nhất. Đại đức tăng, xin lắng nghe. (như trên, đến: ) Ai không chấp thuận hãy nói. Đây là yết ma lần thứ hai. (như trên) Đây là yết ma lần thứ ba. Tăng đã chấp thuận cho thức xoa ma na… thọ cụ túc giới theo Hòa thượng ni… vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Bạch tứ yết ma xong, từ đây giới tử ni được gọi là tân tỳ kheo ni. Tiếp theo, tăng truyền thọ giới tướng, tức là truyền tám pháp ba la di, các y pháp và tám kỉnh pháp.

6. Thọ giới tướng

Ni có tám pháp ba la di. Bốn ba la di đều giống như của tỳ kheo. Trong đó, khi truyền đổi các từ xưng hô, như tỳ kheo thì nói là tỳ kheo ni; sa môn Thích tử thì chỉ nói là Thích nữ. Dưới đây chỉ nhắc bốn ba la di cuối.

- 5. Không được đụng chạm thân thể người nam, cho đến kể cả loài súc sinh. Nếu tỳ kheo ni, với tâm nhiễm ô, đụng chạm đến thân thể người nam có tâm nhiễm ô từ nách trở xuống và từ đầu gối trở lên; hoặc bóp, hoặc xoa, hoặc kéo, hoặc đẩy, hoặc xoa ngược, hoặc xoa xuôi hoặc nâng lên để xuống, hoặc nắm hoặc cọ. Như vậy không còn là tỳ kheo ni nữa, không phải là Thích nữ nữa.

- 6. Không được phạm tám sự, cả đến với súc sinh, nếu tỳ kheo ni với tâm nhiễm ô, chịu cho người nam có tâm nhiễm ô nắm tay, nắm áo vào chỗ khuất, cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng đi, thân thể kề sát nhau, cùng ước hẹn nhau, phạm tám sự này, không còn là tỳ kheo ni, không phải là Thích nữ nữa.

- 7. Không được che dấu tội người khác. Dù là tội đột kiết la hay tội ác thuyết. Nếu tỳ kheo ni biết tỳ kheo ni khác phạm tội ba la di mà không nêu ra, không bạch Tăng hay không nói cho số đông người biết, về sau, khi tỳ kheo ni kia hoặc bãi đạo, hoặc bị diệt tàn; bấy giờ mới nói rằng: "Trước đây tôi đã biết có sự kiện như vậy như thế, do trọng tội phú tàng này, không còn là tỳ kheo ni, không phải là Thích nữ nữa.

- 8. Không được theo tỳ kheo bị xả trí ([9]), theo sa di cho đến người giữa chùa bị xả trí. Nếu tỳ kheo ni biết tỳ kheo kia đã bị tăng xả trí như pháp, như luật, như lời Phật dạy mà không phục tùng, không chịu sám hối; nếu Tăng chưa tác pháp cho người ấy sống chung mà tuỳ thuận theo tỳ kheo ấy; các tỳ kheo ni can gián tỳ kheo ni này rằng: " Này cô, có biết không, nay tỳ kheo ấy bị Tăng xả trí. Như pháp, như luật, như lời Phật dạy. Nhưng tỳ kheo ấy không phục tùng, không chịu sám hối; Tăng chưa tác pháp xả cho tỳ kheo ấy sống chung. Vậy cô đừng tùy thuận, tỳ kheo ni nay như vậy mà cố chấp không bỏ. Các tỳ kheo ni nên can gián ba lần cho bỏ sự ấy. Sau ba lần can gián, bỏ thì tốt, nếu không bỏ, không còn là tỳ kheo ni, không phải là Thích nữ nữa.

Này tân tỳ kheo ni, đức Như lai, bậc vô sở trước, đẳng chính giác, đã nói, tám pháp ba la di, lại nói bốn thí dụ. Nếu ai phạm tám điều trọng cấm này. Như người đã bị ắt đầu không còn có thể cứu sống được nữa, như cây ta la bị chặt đứt lõi không còn sinh trưởng được nữa; như cây kim sút lỗ không còn dùng được nữa; lại như tảng đá lớn bị vỡ hai không còn dính lại được. Nếu tỳ kheo ni phạm tám trọng cấm này rồi thì phẩm hạnh tỳ kheo ni không thể phục hồi được nữa, trong tám điều này ngươi phải trọn đời hộ trì không được trái phạm.

7. Truyền thọ các y pháp

Các y pháp tức bốn thánh chủng. Nội dung cơ bản giống như của tỳ kheo, đã được nói trong chương trước. Tuy vậy ở đây có sự bất đồng giữa các bộ. Theo Tứ phần tỳ kheo ni yết ma yếu dụng,([10]) bốn sở y của tỳ kheo ni hoàn toàn đồng nhất với của tỳ kheo. Nhưng, Di sa tác yết ma bản,([11]) thay điều sở y thứ ba của tỳ kheo, "y thọ hạ", " y thô tệ ngọa cụ" (sống y trên các ngọa cụ thô xấu). Trái lại, Thập tụng yết ma tỳ kheo yếu dụng ([12]) bỏ hẳn sở y về thọ hạ này, nên tỳ kheo ni chỉ có ba sở y, bởi vì, theo ni luật: ni bất trụ lan nhã, tỳ kheo ni không được phép sống tại a lan nhã.

8. Truyền tám kỉnh pháp

Này tân tỳ kheo, hãy lắng nghe. Đức Phật đã lập tám pháp tôn kỉnh. Người nữ y nơi đó mà được xuất cụ túc. Tám pháp ấy là gì?

1. Tỳ kheo ni dù trăm tuổi hạ, khi thấy tỳ kheo dù mới thọ giới, phải đứng dậy đón chào, hỏi han, lễ bái, thỉnh ngồi.

2. Không được mắng tỳ kheo.

3. Không được nêu tội tỳ kheo, không được tác pháp ức niệm, tự ngôn trị đối với tỳ kheo, không được ngăn tỳ kheo xét tội, ngăn thuyết giới, ngăn tự tứ, và nói lỗi lầm của tỳ kheo tăng. Nhưng tỳ kheo tăng được nói lỗi của tỳ kheo ni.

4. Phải thỉnh cầu tỳ kheo tăng mà thọ cụ túc.

5. Nếu phạm tăng tàn, phải ở giữa hai bộ tăng, nửa tháng hành pháp ý hỷ.

6. Nửa tháng phải đến tỳ kheo tăng cầu thỉnh giáo thọ.

7. Không được kiết hạ an cư ở chỗ không có tỳ kheo tăng.

8. Sau khi an cư phải đến giữa tỳ kheo tăng cầu ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi.

Tám pháp tôn kỉnh như vậy, ngươi phải trọn đời phụng trì.

9. Giáo giới

Nội dung các lời giáo giới, đại để cũng giống như trong truyền thọ tỳ kheo.

-------------------------------

TIẾT BA

YẾT MA CẤM TỲ KHEO NI NUÔI CHÚNG

Tỳ kheo ni đủ mười hai hạ, đủ các đức tính để làm Hòa thượng ni, đã được Ni Tăng tác pháp yết ma cho nuôi chúng, nhưng nếu không thực hiện đầu đủ các trách nhiệm giáo dục đệ tử, thì Ni Tăng có thể cứu xét và nếu cần thì tác pháp yết ma ngăn cấm không cho nhận đệ tử nuôi chúng nữa.

Sau khi Ni Tăng họp, tác pháp tiền phương tiện của yết ma xong, tiếp theo nêu những khuyết điểm của tỳ kheo ni nuôi chúng mà không biết dạy dỗ ấy. Trong khi Ni Tăng nêu các khuyết điểm, vị tỳ kheo ni đương sự phải quì trước Tăng, chắp tay lắng nghe.

Nêu các khuyết điểm xong, bạch yết ma như sau:

Đại đức ni tăng, xin lắng nghe. tỳ kheo ni… nuôi đệ tử mà không giáo hóa, không giảng pháp. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay tác pháp yết ma ngăn cấm không cho tỳ kheo ni… nuôi đệ tử nữa. Đây là lời tác bạch.

Đại đức ni tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo ni… nuôi đệ tử mà không giáo hóa, không giảng pháp. Tăng nay tác pháp yết ma ngăn cấm không cho tỳ kheo ni nuôi đệ tử nữa. Các trưởng lão ni nào chấp thuận, Tăng tác pháp yết ma không cho tỳ kheo ni… nuôi đệ tử, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.

Tăng đã chấp thuận tác pháp yết ma ngăn cấm tỳ kheo ni… nuôi đệ tử, vì đã im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.






CHÚ THÍCH

[1] Tứ phần luật 28 (đại 22, tr. 761b-c) Ni luật, ba dật đề điều 131: tỳ kheo ni chưa đủ mười hai hạ truyền giới cụ túc cho người phạm ba dật đề; điều thứ 132: tỳ kheo ni đủ mười hai hạ chưa được tăng yết ma cho phép mà súc chúng, phạm ba dật đề.

[2] Tứ phần luật 28 (đại 22, tr. 764a), ni luật, ba dật đề điều 138.

[3] Sáu học pháp của thức xoa ma na, các luật bộ đại để tương đồng. Riêng căn bản thuyết hữu bộ, có nội dung khác hẳn: 1. Không được đi đường một mình; 2. Không được lội sông một mình; 3. Không được đụng chạm thân thể đàn ông; 4. Không được ngủ chung nhà với đàn ông; 5. Không được làm mai dong; 6. Không được che dấu trọng tội của ni và thêm sáu tùy pháp: 1. Không được cất giữ vàng bạc làm của riêng; 2. Không được cạo lông chỗ kín; 3. Không được đào xới đất mà cây cối có thể mọc; 4. Không được cố ý nhỗ cây cỏ còn sống; 5. Không được ăn đồ ăn mà người không mời; 6. Không được ăn đồ ăn đã được người khác đụng đến. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bí sô tỳ nại da 18 (đại 23, tr. 1).

[4] Tứ phần luật 28 (đại 22, tr. 759a), ni luật, ba dật đề điều 125, nguyên văn Hán dịch: "Nhược tỳ kheo ni độ tằng giá nữ niên thập tuế, dữ nhị tuế học giới, niên mãn thập nhị thính dữ thọ cụ túc giới; nhược giảm thập nhị dữ thọ cụ túc giới giả ba dật đề."

[5] Yết ma chỉ nam 3 chống đối thuyết tảo hôn, cho rằng thập tuế tằng giá không chỉ cho năm sanh mà chỉ cho mười năm đã lấy chồng, và giải thích: vị sơ kinh phối hợp, khủng bỉ dâm tâm nan đoạn cố, "vì rằng mới trải qua sự phối hợp sợ rằng dâm tâm của người đó khó đoạn trừ." Tham chiếu các bộ luật Ngũ phần luật 13 (đại 22, tr. 91a) Ma ha tăng kỳ luật 39 (da95I 22, tr. 525). Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bí sô tỳ nại da 18 (đại 23. Tr. 1004c).

[6] Thập tụng luật 45 (đại 23. Tr. 326).

[7] Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tỳ nại da tập sự 30 (đại 24, tr. 352b).

[8] Tham chiếu các luật bộ.

a) Di sa tác yết ma bản (đại 22, tr. 219b), các già nạn: 1-5 tội ngũ nghịch; 6- Phạm tịnh hạnh với tỳ kheo; 7- Phi nhơn; 8- súc sinh; 9- nhị hình; 9- tự xuống tóc và tự xưng là tỳ kheo ni; 10- xả nội; ngoại đạo; 11- đã từng xuất gia mà trì giới không trọn, cả các chứng bệnh khác v.v…..

b) Tứ phần tỳ kheo ni yết ma pháp (đại 22, tr. 1066c) 1- phạm biên tội, 2-phạm tịnh hạnh với tỳ kheo; 3-tặc tâm thọ giới, phá nội ngoại đạo; 4-Hoàng môn; 5-9 tội ngũ nghịch; 10-phi nhân; 11-súc sinh; 12- nhị hình.

c) Thập tụng yết ma tỳ kheo yếu dụng (đại 23, tr. 498) các già nạn phần lớn qui tụ các chứng bệnh riêng của người nữ, ở đây không cần thiết nêu lên.

d) Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma (đại 24, tr. 461c): 1- còn cha hay mẹ nhưng cha mẹ không cho phép; 2- còn chồng nhưng chồng không cho phép; 3- nô tỳ không được chủ cho phép; 4- cung nhân không được quốc chủ cho phép; 4- người độc hại của vương giả; 5- đạo tặc; 6- ưu sầu tổn tâm (tức điên cuồng hay quẩn trí) 7-âm đạo nhỏ, không có âm đạo, có cả 2 đạo hay hai đạo hiệp một; 8- thường lưu huyết hay không có huyết (kinh nguyệt); 9- Hoàng môn; 10- Ô tỳ kheo, tức phạm tịnh hạnh với tỳ kheo; 11-15 tội ngũ nghịch; 16- hiện là ngoại đạo; 17- đã từng làm ngoại đạo, tặc trú; 19- biệt trú; 20- bất cộng trú; 21- mắc nợ người mà không thể trả; 22- đã từng xuất gia.

[9] Xả Trí: Bị gạt sang một bên. Cũng gọi là bị cử. Chỉ tỳ kheo ngoan cố, được tăng tác yết ma hạ gián nhưng không phục tùng, do đó tăng tác yết ma ha gián nhưng không phục tùng, do đó tăng tác yết ma xả trí. Tỳ kheo nào thuận theo người bị tăng xả trí, phạm ba dật đề, điều 69 Tứ phần. Nhưng nếu tỳ kheo ni theo người xả trí phạm ba la di.

[10] (đại 22, tr. 1068a).

[11] (đại 22, tr. 220c).

[12] (Đại 22 , tr. 499a-b)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn