Giới thiệu Kinh Giải Thâm Mật

04/04/201312:32(Xem: 8265)
Giới thiệu Kinh Giải Thâm Mật

Phat thuyet phap 7
Giới thiệu
Kinh Giải Thâm Mật

Thích Nữ Như Điền

Nguồn:
Hoàng Sám Hoa.
Thích Nữ Như Điền dịch
(trích từ Phật giáo Trung Quốc tập 3)



Kinh Giải Thâm Mật gồm năm quyển do Tam tạng Pháp sư Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phúc niên hiệu Trinh Quán thứ 21 (năm 647) đời Đường. Tương truyền bản tiếng Phạn bộ kinh này có mười vạn bài tụng, bản dịch hiện nay là bản lược dịch có một ngàn năm trăm bài tụng, chia làm 8 phẩm. Trước đó, quyển kinh này đã có ba bản dịch :

1. Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Gia đời Lưu Tống (424-453), Ngài Cầu Na Bạt Đà La người Trung Ấn Độ, dịch tại chùa Đông An huyện Giang Ninh, Nhuận Châu, gọi là "Tương tục giải thoát liễu nghĩa kinh", một quyển, chỉ có hai phẩm cuối.

2. Niên hiệu Diên Xương thứ ba đời Ngụy (514), Ngài Bồ Đề Lưu Chi người Bắc Ấn Độ, dịch tại chùa Thiếu Lâm, Lạc Dương, gọi là "Thâm mật giải thoát kinh", năm quyển, chia làm 11 phẩm.

3. Niên hiệu Thiên Gia thứ hai đời Trần (561), Ngài Chân Đế người Tây Ấn Độ, dịch tại chùa Kiến Tạo, tên là "Giải tiết kinh", một quyển, chỉ có hai phẩm đầu mà chia nhỏ làm 4 phẩm.

Ngoài ra còn có bản dịch Tây Tạng.

Giải Thâm Mật tiếng Phạn là Sandhi-nirmocara, dịch âm là San địa niết mô chiết na. Căn cứ "Giải Thâm Mật kinh sớ" của Viên Trắc, "Thành Duy thức luận diễn bí" (cuối quyển ba) của Trí Châu, "Du Già Sư Địa luận ký" (quyển thượng 20) của Độn Luân, đều nói "San địa" có ý nghĩa là "chư vật tương tục (các vật nối nhau)", "cốt tiết tương liên (đốt xương liền nhau)", "thâm mật (sâu kín)" v. v... Tên của các bản dịch, đều dùng một ý trong đó, mà tên bản dịch đời Đường thì hay hơn hết.

Bộ kinh này giải thích thâm nghĩa cảnh, hành, quả của đại thừa, chia làm 8 phẩm : Phẩm một là tự phần, bảy phẩm còn lại là chánh tông phần. Lại bảy phẩm chánh tông có thể nhiếp làm ba loại : Bốn phẩm đầu nói rõ caûnh sở quán, hai phẩm kế là phân biệt hạnh năng quán, phẩm sau cùng hiển thị quả sở đắc. Nội dung sơ lược như sau :

1. "Tự phẩm" : Tường thuật công đức thù thắng của Đức Phật và cõi Phật thù thắng trang nghiêm, cùng với vô lượng Bồ tát và Đại Thanh văn cóù thể hiểu thâm nghĩa mật nghĩa.

2. "Thắng nghĩa đế tướng phẩm" : Giải thích thắng nghĩa đế tướng lìa ngôn ngữ lìa phân biệt, vượt qua tất cả suy nghĩ và tất cả pháp không phải một khoâng phải khác, mà phổ biến trong tất cả pháp bình đẳng một vị, tức ly ngôn pháp tánh, cũng tức là chư pháp thật tướng.

3. "Tâm ý thức tướng phẩm" : đối với thế tục đế tường thuật thể tướng của tám thức (tâm ý thức). Thuyết minh A lại da thức sanh diệt tương tục, là nguồn gốc sanh diệt, cùng với các tên và sự sai biệt của thức này. Cho đến các tướng sanh khởi của nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.

4. "Nhất thiết pháp tướng phẩm" : Tổng quát thể tướng tất cả các pháp chia làm ba loại tự tánh là biến kế sở chấp, y tha khởi, viên thành thực, để thuyết minh tất cả pháp tướng nhiễm tịnh.

5. "Vô tự tánh tướng phẩm" : Nói rõ tất cả chư pháp đều không có tự tánh, tức y theo ba loại tự tánh lập ba loại vô tánh. Trong đó biến kế sở chấp tánh tướng là nương theo giả danh mà thiết lập, tức là tướng vô tánh. Y tha khởi tướng là nương theo các duyên sở sanh, tức là sanh vô taùnh. Viên thành thực tướng là thắng nghĩa đế của tất cả pháp, là chỗ hiển lộ của tất cả pháp vô ngã, tức là thắng nghĩa vô tánh. Thanh văn, Độc giác, Bồ tát ba loại hữu tình đều do con đường vô tự tánh thanh tịnh vi dieäu duy nhất này, chứng đắc vô thượng Niết bàn, do đây mật ý nói "chỉ có nhất thừa", nhưng trong đó cũng có sự sai khác của độn căn, trung căn, lợi căn. Vì thế, Đức Thế Tôn thuyết pháp, có ba thời không giống nhau. Thời đầu tiên chỉ vì những người có xu hướng Thanh văn thừa, dùng tướng tứ đế chuyển chánh pháp luân, là chưa liễu nghĩa. Thời thứ hai vì những người có xu hướng tu đại thừa, căn cứ đạo lý tất cả pháp đều vô tự tánh, dùng tướng ẩn mật mà chuyển chánh pháp luân, vẫn chưa liễu nghĩa. Thời thứ ba ở đây khắp vì những người có xu hướng nhất thiết thừa, căn cứ đạo lý tất cả pháp đều vô tự tánh, dùng tướng hiển hiện minh bạch mà chuyển chánh pháp luân, là chân liễu nghĩa.

6. "Phân biệt Du Già phẩm" : Thuyết minh các nghĩa tướng tu Xa ma tha (chỉ), Tỳ bát xá na (quán) trong phép tu Du Già, hiển thị diệu hạnh Duy thức chỉ quán, chứng minh các pháp do thức biến hiện, mà phân biệt các hành tướng định huệ đó.

7. "Địa Ba la mật đa phẩm" : Nói về danh nghĩa Bồ tát thập địa cho đến Phật địa thứ 11, và chỗ phải học của Bồ tát là lục độ Ba la mật : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ (Bát nhã), mà do trí huệ Ba la mật là có thể lĩnh hội ý nghĩa chư pháp vô tự tánh.

8. "Như Lai thành sở tác sự" : Nói về công đức viên mãn của hóa thân và pháp thân của Như Lai, nói rõ ý liễu nghĩa việc làm của Như Lai ï.

Chú giải bộ kinh này (bản dịch đời Đường), có "sớ" của Viên Trắc, mười quyển, nay còn 9 quyển, "chú" của Độn Luân năm quyển. Ngoài ra còn có "sớ" của Linh Nhân mười một quyển, "sớ" của Huyền Phạm mười quyển, "sớ" của Nguyên Hiểu ba quyển, "sớ" của Cảnh Hứng vài quyển v. v... đều đã thất truyền. Bản dịch của Đại sư Chân Đế có "Giải tiết kinh sớ" do chính Ngài soạn, cũng đã thất truyền, nhưng một bộ phận sớ của Ngaøi được thấy rải rác trong "sớ" của Viên Trắc. Được Nội học viện Trung Quốc biên tập thành "Giải Tiết kinh Chân Đế nghĩa" một quyển.

Ngoài ra, bản dịch Tây Tạng có :

1. "Giải Thâm Mật lược thích" : Vô Trước soạn, Thắng Hữu dịch, 220 bài tụng, không đủ một quyển.

2. "Giải Thâm Mật kinh quảng thích" : thất truyền, Tây tạng cựu kinh lục nói là 40 quyển, Long Tràng soạn.

3. "Giải Thâm Mật kinh đại sớ" : tức bản "sớ" của Viên Trắc, Hán Thành dịch, 75 quyển. Bản Hán văn "sớ" của Viên Trắc nay thiếu sáu quyển sau, bản dịch Tây Tạng hoàn toàn đầy đủ 6 quyển sau. Các năm gần đây do Pháp sư Quán Không dịch từ tiếng Tạng sang lại tiếng Tàu, tên là "Giải Thâm Maät kinh sớ", do Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc ấn hành.

Do toàn văn 7 phẩm chánh tông của bộ kinh này được trích dẫn trong "Du Già sư địa luận", lại "Thành Duy thức luận" cũng trích dẫn bộ kinh này, do đó mà biết bộ kinh này ở Ấn Độ là kinh điển quan trọng của phái Du Già. Sau khi bộ kinh này được dịch sang tiếng Tàu, tông Từ AÂn y theo "Vô tự tánh tướng phẩm" của bộ kinh này, phán đoán giáo pháp của Đức Phật, chia làm tam thời giáo : hữu, không, trung đạo, và y theo "Tâm ý thức tướng phẩm" và "Nhất thiết tướng phẩm" của bộ kinh này và lấy tam tánh thuyết và duy thức thuyết làm giáo nghĩa căn bổn của tông mình.

Phật học viện Mân Nam – Hạ Môn - Trung Quốc
Ngày 15.7.2002






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/04/2013(Xem: 8114)
Sau Phật Niết bàn 100 năm thì Đại hội kết tập Pháp Tạng lần thứ hai diễn ra, và sau lần kết tập lần thứ 2 đúng 118 năm lại diễn ra cuộc kết tập lần thứ 3. Như vậy lần kết tập này xảy ra sau Phật Niết bàn 218 năm, tức là 325 năm trước Tây lịch. Đại hội lần này do Hoàng đế A Dục (Asoka) đề xướng và bảo trợ .
03/04/2013(Xem: 11936)
Sau Phật Niết bàn khoảng 400 năm, tại nước Kiền Đà La (Gandhàra) có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishca) trị vì, đất nước phú cường, danh vang khắp nơi ,các nước xung quanh đều quy phục. Trong những lúc rảnh rỗi việc triều đình, nhà vua thường đọc kinh Phật. Mỗi ngày vua thỉnh một vị cao tăng vào cung thuyết pháp.
03/04/2013(Xem: 8347)
Sau lần kết tập pháp tạng thứ tư đúng 2015 năm thì đến lần kết tập pháp tạng thứ 5. Theo sự ghi chép của Pàli giáo sử chương 6 và sử Miến Điện; thì vào năm 1871, quốc vương Miến Điện là Mẫn Đông (Mindon - tại vị từ 1853 - 1878) đứng ra triệu tập 2400 vị cao tăng, cử hành kết tập Tam tạng giáo điển lần thứ 5, tại thủ đô Man-Đức -Lặc (Mandalay), chính quốc vương làm người hộ pháp.
03/04/2013(Xem: 9012)
Đại Tạng Kinh chữ Hán là một bộ tổng vựng các kinh sách Phật Giáo, nhưng bao gồm rất nhiều lĩnh vực như : triết học, lịch sử, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, lịch toán, y dược, thiên văn... Đây là một kết tinh của văn hóa Trung Quốc và văn hóa nước ngoài có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển của văn hóa thế giới.
03/04/2013(Xem: 10887)
Kinh Tạp A Hàm là một trong tứ A Hàm. Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, năm trăm đại đệ tử kết tập kinh điển ở thành Diệp Quật, những kinh điển sau khi được thẩm định, mới chính thức trở thành chuẩn mực tu tập cho hàng Thánh chúng.
03/04/2013(Xem: 8505)
Hội Thân hữu Phật giáo thế giới, chủ yếu là liên lạc tính đặc thù của Phật giáo khu vực trong mối giao lưu của Phật giáo thế giới. Xuất phát từ tinh thần liên kết đến sự hòa vui hợp tác, từ sự phát huy văn hóa cao cả của đức Phật đến thực hiện sự nghiệp cứu giúp chúng sinh.
29/03/2013(Xem: 25964)
Pháp thoại: Chánh Ngữ bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng tại Trung Tâm Mắt Thương Nhìn Đời, Santa Anna, California, Hoa Kỳ
29/03/2013(Xem: 23827)
Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ Saigon Radio 890 AM Dallas TX (Quang Hưng & Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn TT Nguyên Tạng)
29/03/2013(Xem: 24051)
Chủ đề: Đại Trí - Đại Hạnh Bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng giảng tại Thiền Viện Chánh Pháp, Oklahoma, USA
23/03/2013(Xem: 5956)
Trong các thuật ngữ Phật Giáo, có lẽ không có thuật ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế" hay còn gọi “Chân lý Tuyệt đối” (Paramatha Sathya) và “Chân lý có tính Quy ước”